Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

Nhận Họ

   
     Xưa nay họ Mạnh Thường vùng Yên Châu vẫn bị thiên hạ cho là lạc loài mất gốc. Điều này khiến những người trong dòng họ cay đắng và phẫn uất lắm. Trưởng tộc Mạnh Thường Đức - vẫn quen gọi là Mạnh Đức – là người phải trăn trở nhiều hơn cả, vì chính ông là đại diện cao nhất vậy. Mỗi lần họp làng, mấy thủ chỉ trong vùng thường chê họ Mạnh là con hoang, cầu bất cầu bơ, ăn nhờ ở đậu. Trong khi những dòng họ khác như Phạm, Lê, Hoàng, Nguyễn… thì gốc gác hẳn hoi và có công lao khai phá vùng đất này. Những lúc như vậy, trưởng tộc Mạnh Đức như  bị xát muối vào lòng, chỉ muốn đất dưới chân tự dưng nứt toác ra để mà độn thổ đi cho rồi. Nhưng rồi ông cố nhịn nhục, vì ngẫm ra thì người ta nói cũng phải. Họ hàng mình đông đúc như ngày hôm nay, cũng phải có tổ tiên nguồn cội chứ, vì rằng:

 

Cây có gốc mới nẩy cành xanh ngọn

Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Khẩu chiến Quan Chức

     

   Tại một cơ quan nọ, có hai vị quan chức tuổi sàn sàn nhau. Một vị có bằng tiến sĩ, còn vị kia thì chỉ học bổ túc văn hóa cấp ba. Có phải vì xuất thân khác nhau như vậy mà họ luôn hục hặc và khắc khẩu với nhau hay không, nhưng quả thực một người như đến từ sao kim, còn người kia sao hỏa vậy. Vị tiến sĩ người tầm thước, trắng trẻo và hồng hào, trán thì cao đến tận đỉnh đầu, trông rõ là trí thức. Hiện ngài tiến sĩ là “trưởng phòng tổ chức” của cơ quan. Còn ngài văn hóa bổ túc thì đang giữ chức “trưởng phòng nội vụ”. Không giống với ngài tổ chức, ngài nội vụ có dáng thấp đậm và đen đúa, trán có u có sần, tai lại nhỏ và nhọn như tai chuột. Mới nhìn qua đã biết là xuất thân bần tiện. Vì vậy mà khi hai kỳ phùng địch thủ đứng cạnh nhau, càng làm nổi bật hơn cái sự bất công của tạo hóa.


    Dĩ nhiên, để có thể đấu lại với ngài tiến sĩ, ông bổ túc văn hóa cũng phải có võ của riêng mình. Những chiêu mà ông ưa dùng là “ném đá dấu tay”, “gắp lửa bỏ tay người”, “thọc gậy bánh xe”…; cho nên ông cũng xứng đáng với danh hiệu “năng lực có hạn, thủ đoạn vô biên” lắm.

 

     Sự đời nhiều khi thật trớ trêu, oan gia lại gặp ngõ hẹp. Chuyện là có cô kế toán trẻ mới xin vào làm việc tại cơ quan. Cô này cao ráo xinh đẹp, trông cứ như đóa hoa mới nở. Gặp đàn ông, cặp mắt của cô lúc nào cũng tít lại như khêu gợi. Hai quan nhà ta, mặc dù đã có vợ con đề huề nhưng lại có máu dê, nay gặp của lạ đâu có cầm lòng đặng, cho nên quan nào cũng thích cả. Ý tứ của cô kế toán thì có vẻ như là: “em chiều cả hai anh”. Mỗi lần đi qua chỗ các quan đang ngồi làm việc, mắt cô lúng liếng đưa tình, cặp mông căng mẩy sau lớp quần bò bó sát cứ đánh tanh tách. Khiến cho ngài trưởng phòng nội vụ vừa nhìn hau háu vừa nuốt nước bọt như là muốn ăn tươi nuốt sống vậy. Người ta còn chưa quên, trước đây ông vốn đã có tiền sử bị vợ đánh vì  cái tội trêu gái. Ấy là thủa hàn vi, hồi còn đi trông hàng cho vợ ở ngoài chợ, nghe đâu ông và cô hàng rau có tình ý với nhau như thế nào đó. Một bữa, nhân lúc vợ về nhà lấy thêm hàng, ông ta liền mon men đến ngồi cạnh cô hàng rau để mà tán tỉnh. Cô vợ hộ pháp vốn có máu ghen, vừa lúc đó trông thấy liền túm lấy tóc hắn mà vật ngửa ra, rồi đánh cho một trận tơi bời giữa chợ. Có phải vì trận đòn ấy mà hắn tức chí bấm chí, rồi quyết tâm phấn đấu để trở thành trưởng phòng nội vụ như bây giờ hay không. Nhưng dù sao thì cái chuyện bị vợ đánh cũng không nên ghi vào tiểu sử thăng quan tiến chức cho lắm.

 

     Bữa nọ vừa thoáng thấy cô kế toán đi qua phòng, ngài nội vụ liền buông lời đong đưa:

 

     - Hỡi cô tát nước bên sông, có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây!…

 

     Nói xong, ngài cười một cách sảng khoái, cái điệu cười mà đến dê cũng phải gọi bằng cụ. Cho rằng câu ca dao mà mình trích dẫn thật là hợp cảnh và tình tứ, ngài lấy làm hài lòng lắm. Cô kế toán nghe thế thì cười toe toét, liếc mắt đưa tình, khiến cho quan ngất ngây vì sung sướng. Vừa lúc ấy, ngài trưởng phòng tổ chức cũng đi qua, thấy sự tình như thế thì không nén được giận, liền dừng lại mà buông một câu:

 

     - Hừ! Lạ thay mặt sắt cũng ngây vì tình!...

 

     Câu này vốn trích trong “Truyện Kiều”, đoạn nói về gã quan dâm đãng Hồ Tôn Hiến, kẻ đã lừa dối nàng Kiều. Biết quan tổ chức nói xỏ mình, nhưng vì không có chứng cứ nên quan nội vụ ấm ức lắm. Vả lại ngài cũng thừa hiểu rằng, nói chuyện chữ nghĩa thì mình  không thể lại với người ta. Cho nên đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt mà quay trở vào phòng, đợi đến dịp khác sẽ trả thù sau vậy.

 

     Một lần cô văn thư đánh máy vào phòng tổ chức có việc, tình cờ thấy cô kế toán đang ngồi tình tứ trên đùi ông tiến sĩ. Còn ông này thì lấy tay mà sờ mó khắp người cô ta. Chuyện cứ thế mà đồn ầm ra mãi. Mối bất hòa giữa quan nội vụ và ông tiến sĩ vì thế mà ngày càng trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết. Nhìn người đẹp kế toán rơi vào tay quan tổ chức, ông nội vụ giận tím ruột bầm gan, lòng tự nhủ thầm: “Mày cậy có phong độ và trí thức hơn mà đòi phổng tay trên tao phỏng? Còn lâu nhé! Không đọ được trước mặt thì tao đánh sau lưng, ban ngày không được thì tao đánh ban đêm vậy. Cứ đợi đấy!”. Rồi ngài quyết mà nghĩ kế phục thù, khiến cho ông tiến sĩ phải có ngày bẽ mặt mới thôi.

 

o0o

 

     Thế rồi cơ hội phục quốc cũng đã đến. Bữa nọ quan nội vụ ở lại trực đêm ở cơ quan. Phòng tổ chức cách phòng nội vụ chỉ có một dãy hành lang, vì vậy mà mọi động tĩnh ở đó ngài đều quan sát thấy hết. Nghĩ đến mưu đồ của mình sắp thành, ngài ngồi trong phòng vừa hút thuốc lá vừa mỉm cười một mình đắc ý. Ban ngày mọi người làm việc, tối đến thì về nhà cả, lúc này cơ quan chỉ còn mỗi mình ông và hai anh bảo vệ mà thôi. Đây là thời điểm tốt nhất để kế “ném phân dấu tay” của ông được thành công mỹ mãn. Số là ban chiều đứng từ phòng mình ở lầu ba, ông quan sát thấy đoạn đường cái trước cơ quan có hai bãi phân to tướng do trâu nhà ai mới thải ra. Cho nên ông mới nghĩ ra cái mưu kế tuyệt diệu này.

 

     Trời về khuya, lúc này đèn trong khu vực cơ quan cũng đã tắt hết, chỉ riêng phòng bảo vệ là vẫn còn ánh sáng. Ông nội vụ cũng tắt đèn ở phòng mình mà giả vờ đi ngủ. Đoạn ông ghé mắt qua cửa kính để nhìn xuống phòng bảo vệ, thấy một anh thì đã ngủ say, còn anh kia cũng đang gật gù như say rượu. Ông xoa xoa tay hài lòng, rồi một tay cầm xô, tay kia vác xẻng mà rón rén đi ra ngoài. Trong bóng tối, ông bước nhẹ xuống lầu, êm ru như một con mèo. Lấy tay đẩy khẽ cánh cửa sau của cơ quan cho mở hé ra, rồi cứ thế ông thong dong mà đi tuốt ra phía đường cái. Đến chỗ hai bãi phân trâu lúc chiều, ông nội vụ dừng lại, cẩn thận lấy xẻng mà xúc đổ hết vào trong xô. Hai bãi phân trâu to đến nỗi gần đầy cả cái xô mà ông mang theo. Xong xuôi đâu đấy, ông lại cẩn trọng mà lắng nghe mọi động tĩnh xung quanh. Không gian lúc này tĩnh mịch, bốn bề chẳng có lấy một bóng người, chỉ nghe văng vẳng đâu đây tiếng chó nhà ai đang sủa ma. Bấy giờ ông mới yên tâm mà nhẹ nhàng xách cái xô để quay trở lại cơ quan. Hai anh bảo vệ thì vẫn đang ngủ say như chết, giá như ông có khênh cả cơ quan mà dời đi chỗ khác thì họ cũng chẳng hề biết gì. Thế rồi ông lại men theo dãy hành lang, leo thẳng một mạch lên phòng tổ chức. Tại đây, cánh cửa phòng làm việc vẫn khóa im ỉm. Sau khi đặt cái xô xuống, ông nội vụ lấy xẻng xúc phân mà hắt lên khắp cánh cửa phòng của ngài tiến sĩ. Khi hai cánh cửa đã dính đầy những phân trâu, phần còn lại trong xô, ông đổ hết cả ra chỗ thềm phía trước. Xong việc, ông lại trở về phòng mình, rửa ráy sạch sẽ rồi lên giường đi nghỉ như chưa hề có chuyện gì xẩy ra.

 

     Sáng hôm sau, ông nội vụ vừa ngồi ở phòng làm việc, vừa lắng tai nghe mọi động tĩnh xung quanh. Rồi tiếng ổn ào từ phía phòng tổ chức cũng rộ lên. Đoán chắc là mọi việc đã diễn ra như ý, ông như  mở cờ trong bụng. Thấy cậu nhân viên trẻ hốt hoảng đi vào, ông bèn cất giọng hậm họe:

 

     - Hừm! Bên ngoài có việc gì mà ồn cả lên thế?

 

     Cậu nhân viên mau mắn:

 

     - Thưa sếp! Không hiểu ai đó đã đổ phân trâu trước phòng tổ chức. Họ đang dọn dẹp và cọ rửa ở đó…

 

     Ông nội vụ làm bộ ngạc nhiên:

 

     - Có chuyện đó thật sao?...

 

     Rồi giống như một kẻ tò mò hóng chuyện, ông cũng vội vã theo chân cậu nhân viên đến đó để mà xem sự thể thế nào.

 

     Tại phòng tổ chức, lúc này hai cánh cửa đã được lau sạch, khóa cũng đã mở ra. Mấy người làm công tác vệ sinh đang cọ rửa dưới thềm cho sạch sẽ trở lại. Ông tiến sĩ hai ống quần xắn lên đến đầu gối, cặp kính thì trễ xuống tận sống mũi, nom đến là tội nghiệp. Hai tay ông buông thỏng, rồi vừa đi đi lại lại, ông vừa ngửa mặt lên trời mà kêu khổ:

 

     - Trời đất ơi!...

 

      Nhìn vẻ mặt thần ra vì hoang mang của đối thủ, ông nội vụ như nở hoa trong bụng. Sau mấy lời động viên an ủi kiểu vô can, ông chắp hai tay ra sau đít mà chậm rãi đi về phòng. Thoáng thấy ánh mắt sắc lẹm của ngài tiến sĩ nhìn theo, ông nội vụ biết là đối phương đã nghi mình là thủ phạm, bèn nghĩ thầm: “Cho mày tha hồ mà nghi ngờ nhé, không có bằng chứng thì làm gì được nhau nào? Xem mày còn oai vệ và vênh vang như mọi ngày được nữa không?”.

 

     Tuy không biết kẻ xấu nào đã đổ phân trâu trước phòng làm việc của mình, nhưng mọi nghi ngờ của ông tiến sĩ đều đổ dồn cả hết cho ông nội vụ. Có lẽ mọi người trong cơ quan cũng có chung suy nghĩ như vậy. Vì thế mà những nỗ lực giảng hòa của họ đối với hai ông cũng ngày một trở nên vô vọng. Và ai cũng hiểu rằng, cái nguy cơ chiến tranh bùng phát sẽ là điều khó tránh khỏi. 

 

o0o

 

     Bữa nay là ngày “Đại đoàn kết toàn dân”, cơ quan tổ chức liên hoan tại quán thịt chó. Vì mối bất hòa giữa ông tổ chức và ông nội vụ, cho nên họ không được xếp ngồi chung một mâm với nhau. Tuy ngồi cách một dãy bàn, nhưng hai kỳ phùng địch thủ vẫn có thể nhìn thấy nhau mỗi khi liếc xéo sang phía đối diện. Rượu thịt chó được vài tuần, lúc này mọi người đều đã ngà ngà say. Tiếng cười nói ầm ĩ làm rung chuyển cả ngôi quán nhỏ. Một lúc thì các đĩa đã vơi, cô kế toán liền đi tiếp đồ nhậu cho mọi người. Lúc đến bàn ông tiến sĩ, cô ưu tiên hơn mà đứng bên cạnh mãi, cặp vú căng mọng cứ thế mà nhảy tưng tưng trước mặt ông ta. Hình ảnh đó như càng tăng thêm cái vẻ ghen tuông bất mãn lúc này của ông nội vụ. Ông nâng li rượu uống một hơi cạn, rồi liếc mắt về phía ông trưởng phòng tổ chức mà bâng quơ:

 

     - Phục vụ nó mà làm gì. Cái loại lưu manh giả danh trí thức ấy!...

 

     Nhìn trước ngó sau, rõ ràng lúc này chỉ có mỗi cô kế toán là đang phục vụ mình. Biết là bị ông nội vụ chửi đích danh, ngài tiến sĩ liền đứng phắt lên, quát lớn:

 

     - Cái thằng chăn trâu vô học kia. Mày nói ai lưu manh hả?...

 

     - Tao nói mày đấy! Chả lưu manh thì là gì. Cái loại mua bằng cấp ấy thì tiến sĩ cái gì. Có mà tiến sĩ giấy!

 

     Bị khui ra cái vụ mua bằng tiến sĩ giả của mình, ông tổ chức nổi khùng mà dậm chân bành bạch:

 

     - Còn hơn gấp vạn lần cái loại mò cua bắt ốc, bám đít trâu ấy. Viết một cái đơn cũng không xong thì “trưởng phòng nội vụ” cái nổi gì?...

 

     Những tưởng ông nội vụ sẽ nổi điên lên sau câu thóa mạ này. Nào ngờ ông vẫn bình thản, cười nhạt mà rằng:

 

     - Bám đít trâu thì đã sao nào? Anh hùng đâu kể xuất thân. Lưu Hoàng Thúc khi xưa chẳng phải chỉ là một anh dệt chiếu bán dép đó sao? Tao tuy xuất thân thấp hèn, nhưng làm chuyện gì cũng quang minh chính đại, chứ đâu có như kẻ nhận tiền chạy chức rồi cuỗm luôn của người ta…

 

     Bị lật tẩy đã nhiều, tuy nhiên ông tiến sĩ vẫn cố nén giận mà quật lại:

 

     - Mày nói mày quang minh chính đại. Vậy thằng nào ban đêm lén lút đổ phân trâu trước phòng làm việc của người ta hả?...

 

     Ông nội vụ phủi tay:

 

     - Ai mà biết. Đi hỏi kẻ đó ấy…

 

     Nói rồi ông cười khẩy mà ngồi xuống. Để cuộc vui có thể tiếp tục, lúc này mỗi người cũng một câu khuyên can.

 

     Ông tiến sĩ cũng đã ngồi xuống vị trí của mình. Từ nãy đến giờ, vì mãi tranh cãi mà quên khuấy đi hết, giờ định thần lại mới nhớ là ông nội vụ có nói đến chuyện mình nhận tiền chạy chức. Điều này là có thật, nhưng không thể để hắn công khai cái chuyện lừa đảo của mình ra trước bàn dân thiên hạ được. Nghĩ đến đây, ông liền nổi xung đứng dậy, chỉ về phía ông nội vụ mà quát đến sùi bọt mép:

 

     - Thằng kia! Mày nói là tao nhận tiền chạy chức của người ta rồi cuỗm luôn hồi nào hả? Tao thì cho mày chừa cái thói gắp lửa bỏ tay người đi này!…

 

     Dứt lời, ngài vớ luôn cái bát mắm tôm trên bàn mà ném vù về phía ông nội vụ.

 

     Thấy vật thể lạ bay về phía mình, ông nội vụ vội né người để tránh.  Nhưng không còn kịp nữa rồi, vì thế mà ông lãnh luôn cả cái bát mắm tôm vào đầu, máu me bê bết cả. Máu đã đổ, một liều ba bảy cũng liều. Tức khí, ông cũng xô bàn đứng dậy, rồi lao nhanh về phía ông tiến sĩ như một cơn lốc. Ngôi quán nhỏ lúc này bổng nhiên trở thành võ đài tỉ thí. Tiếng bát chén đổ loảng xoảng, tiếng chửi rủa, tiếng la hét thất thanh vang lên không ngớt. Tựa như một võ sĩ quyền anh, ngài nội vụ tới tấp tung những cú đấm trời giáng vào đầu vào mặt đối phương. Tuy ngài tiến sĩ kịp giơ tay lên đỡ, nhưng vẫn dính một cơ số đòn vào mặt. Lúc ông lấy tay vuốt miệng thì chợt thấy một chiếc răng bị rơi ra. Vậy là kẻ sứt trán, người thì rụng răng. Trong cơn say đòn, cả hai điên tiết xông vào nhau mà đấm đá khiến cho không ai còn có thể can ngăn được nữa.

 

     Lúc bấy giờ, những người có mặt ở đó đều hoảng loạn. Nếu cứ để cuộc chiến tiếp tục diễn ra, hai hổ tất sẽ có một bị trọng thương, thậm chí kết cục còn xấu hơn thế nữa. Vậy là họ liều chết hò nhau xông vào ôm chặt lấy hai người để mà kéo ra không cho đánh nhau nữa. Bị người ta ôm và nhấc bổng lên, nhưng ngài trưởng phòng nội vụ vẫn tung cước đá liên tiếp vào không khí, hòng giáng những cú đòn chí mạng về phía đối phương.


Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014

Anh Phát

   
   Anh Phát trước đây vốn là lái xe cho giám đốc, bây giờ chuyển lên cơ sở mới này làm việc với chúng tôi. Công việc thường ngày của anh là lái chiếc xe tải chở hàng cho công ty. Bởi vì anh hoạt ngôn, lại hay tếu, cho nên mọi người thường tập trung nghe anh nói chuyện mỗi khi rảnh rỗi. Dáng anh to béo như quan phụ mẫu xưa, da dẻ hồng hào, cái bụng thì núng nính chảy xệ những mỡ. Tính anh Phát điệu đà lắm, lúc nào người ta cũng thấy anh mang gương lược bên mình. Mỗi khi ra đường hay đi đâu, là y như rằng anh chải tóc lượn sóng kiểu như tài tử điện ảnh. Nhìn anh, người tín ngưỡng ngỡ là Phật Di Lặc, kẻ mê tín thì hình dung ra bà đồng cốt, còn người thực tế hơn lại thấy giống như một vị giám đốc thành đạt trên thương trường. Còn như anh em trong công ty chúng tôi thì đặt hẳn cho anh một cái tên rất oách: Tượng Di Lặc - Vì cái dáng vẻ đường bệ vô song của anh mỗi khi an tọa.


      Cái hay của anh Phát là luôn khuấy động không khí, làm cho ai nấy đều cảm thấy vui vẻ. Nhưng cái sự dở cũng không hề nhỏ chút nào, ấy là anh khen đó nhưng rồi lại chê ngay được đó. Cho nên người ta thường sợ mà không dám tin tưởng vào sự tín nghĩa ở nơi anh. Mỗi khi anh khen ai thì bay bổng tận mây xanh, nhưng đã chê thì chỉ còn nước độn thổ để cho khỏi phải xấu hổ ê chề. Đám con gái vô tình mà có mặt lúc anh nói chuyện thì phải đỏ mặt mà bỏ đi ngay, vì những lời nhận xét của anh về họ nhiều khi nghe tục tĩu và nặng nề lắm. Hình như anh có ác cảm với con gái thì phải, vì hiện giờ đang sống ly thân với vợ.

 

     Mỗi khi công ty có cuộc vui hoặc tổ chức nhậu nhẹt gì đó, người chủ trò không có ai thích hợp hơn là anh Phát. Có thể nói là anh đảm đương vai trò này một cách xuất sắc, khiến cho ai cũng cảm thấy hài lòng. Vì ngoài cái tính linh hoạt trời ban ra, anh còn có tài chế biến các món ăn nữa. Việc lựa chọn món gì, địa điểm tập trung ở đâu cho thích hợp, ý kiến của anh bao giờ cũng miễn chê. Vậy nên, mặc dù không có chức sắc gì, nhưng trong các cuộc nhậu, anh Phát luôn ngồi ở vị trí trung tâm. Người ngoài nhìn vào, ai cũng nhầm tưởng anh chính là sếp lớn của công ty.

 

     Chúng tôi thường được nghe anh nói toàn những chuyện to tát trên trời dưới biển, nào là dự án này, rồi kế hoạch nọ. Ai nghe qua cũng thấy thích và bị mê hoặc cả. Tiếng anh sang sảng, vang như chuông đồng, cặp mắt to tròn láo liên mỗi khi nói. Ngôn ngữ mà anh hay dùng thuộc loại “đại ngôn” và “thậm xưng”, đại loại như:

 

     - Hỡi các anh em!

 

     - Tổng công ty của chúng ta.

 

     - Ngài Chủ tịch tập đoàn…

 

     Thế đấy, người hiểu cho anh thì thông cảm, người không biết thì cho rằng anh là người hay nói dóc, “Mười voi không được bát nước xáo”. Cánh thanh niên trong công ty đố nhau xem độ chính xác trong những câu chuyện của anh Phát là bao nhiêu phần trăm. Người thì cho rằng chỉ khoảng hai phần trăm, kẻ lại nói chẳng có phần trăm sự thật nào. Cái sự phần trăm đó thì để lúc khác bàn, vì thực tình mà nói thì cũng khó mà đong đếm được. Nhưng chuyện này thì chúng tôi có thể biết được độ đích xác về tính “thậm xưng” của anh. Ấy là mặc dù trong túi thường chỉ có mấy trăm ngàn, nhưng khi nói về tiền bạc, bao giờ anh cũng toàn nói đến tiền tỉ, thậm chí là hàng trăm hàng ngàn tỉ. Nhiều đối tác làm ăn với công ty, nghe anh nói vậy thì thường nhắm mắt lại để mà mơ về những phi vụ hợp đồng làm ăn lớn. Nói chung là mơ những giấc mơ đẹp. Mặc dù không ký được hợp đồng nào cho công ty, nhưng cái tài ăn nói của anh cũng mang lại lợi ích không nhỏ, giống như vai trò của người tiếp thị hay quảng cáo vậy.

 

o0o

 

     Mỗi khi rảnh, anh Phát hay đi đây đó quanh vùng để thăm thú. Có thể nói là phong cách sống của anh rất phong lưu, cho dù thu nhập của công ty chúng tôi chỉ thuộc loại thấp bé. Cũng nhờ đó mà chúng tôi được sang lây, vì ai cũng nghĩ công ty đang ăn nên làm ra lắm. Anh Phát có một thú vui rất tao nhã, ấy là tìm mua chó cúc. Nghe tin nhà ai có đàn chó mới đẻ là kiểu gì anh cũng tìm đến tận nơi để xem và hỏi mua, cuối tháng lại mang về quê. Cái thú chơi dân dã đó không tốn kém lắm, nhưng lại được tiếng là phong lưu, cho nên phong độ của anh vẫn được duy trì mà chẳng hề suy giảm. Dĩ nhiên loại chó cúc mà anh lùng mua cũng phải thuộc loại bẹc giê hoặc chó lai, còn như chó cỏ thì anh không mua bao giờ.

 

     Mặt trăng mặt trời thường không ưa gì nhau, cho nên anh Phát cũng hay mâu thuẫn với tay quản lý của công ty tôi. Bất cứ ở đâu, hễ người này có mặt thì người kia lập tức bỏ đi và ngược lại. Dạo nọ có anh tên là Vinh mới vào làm bảo vệ cho công ty, vì còn chân ướt chân ráo cho nên anh ta chưa hiểu nội tình gì cả. Không hiểu bị tay quản lý làm công tác tư tưởng thế nào, anh ta đâm ra ghét anh Phát. Một lần anh Phát đang ngồi trong toilet, anh Vinh liền mang khoá ra khóa trái cửa lại. Giải quyết nhu cầu xong, anh Phát không tài nào mà mở cửa để ra ngoài được. Tức quá, anh đấm thình thình vào cửa nhưng cũng chẳng ai thưa. Cực chẳng đã, anh đành phải ngồi trong đó mà chịu cái nóng kinh hoàng của mùa hè đến gần một tiếng đồng hồ. Đến khi có người đi qua nhà vệ sinh, nghe tiếng anh kêu cứu thì mới nói cho mọi người biết. Lúc này anh Vinh mới mang chìa khóa ra để mở. Khi cánh cửa vừa hé ra, không nói không rằng, anh Phát xông vào thoi tới tấp vào mặt anh Vinh, có thể nói là seri đòn, khiến cho mặt anh này sưng vù.

 

     Chuyện ồn ào cả lên, thế là tay quản lý bắt cả hai người phải viết bản kiểm điểm. Nhìn nét chữ ngoằn ngoèo vì mới học hết lớp bốn của anh Vinh mà không ai nhịn được cười: “..Tôi vừa mở cửa nhà vệ sinh thì bị anh Phát  xông ra đấm liên tiếp bảy quả vào mặt…”. Còn anh Phát thì mặt đỏ tía tai, liên tục xòe hai bàn tay mũm mĩm, nhún vai phân bua:

 

     - Nó khóa trái cửa lại, nhốt tôi trong toilet…

 

     Sau đó chúng tôi dàn hòa cho hai người, vì dù sao anh Vinh cũng mới vào công ty làm việc, chưa hiểu mô tê gì cả.

 

o0o

 

     Thế rồi dạo này người ta lại thấy anh Phát đột nhiên thay đổi kiểu tóc. Cái kiểu đầu lượn sóng như tài tử điện ảnh trước đây không còn nữa, thay vào đó là mái đầu húi cua nhẵn thín.Trông chả khác gì mấy ông giám đốc công ty Đài Loan, Hàn Quốc hay Nhật Bản gì đó. Nhìn dáng điệu to béo hồng hào của anh, nhất là cái kiểu đi khuỳnh khuỳnh mỗi khi bước xuống ô tô, có đoán anh là chủ tịch tập đoàn cũng không hề oan chút nào, nói gì đến mấy chức giám đốc công ty này nọ. Đối với anh em chúng tôi, kiểu đầu nhẵn thín càng khiến anh xứng đáng với cái tên “Tượng Di Lặc” nhiều lắm.

 

     Cũng cần nhắc lại, ấy là công ty chúng tôi mới thành lập nên nhân sự còn chưa ổn định. Vì vậy mà người ta chỉ mới cử lên đây một người làm quản lý tạm thời. Tay quản lý này cũng về Hà Nội suốt, thi thoảng mới có mặt ở đây. Vì chưa có chức danh cụ thể, nên mọi người tự bàn bạc với nhau để mà giải quyết công việc, không phân biệt thấp cao gì cả.

 

      Một bữa, mấy anh em chúng tôi tập trung bàn bạc như mọi khi. Chợt thấy ngoài hành lang có một anh chàng trẻ tuổi đang đứng rụt rè, trên tay cầm bộ hồ sơ xin việc mới toanh. Dường như đây là lần đầu tiên đến công ty, cho nên anh ta có vẻ lạ lẫm lắm. Một lúc thì chúng tôi họp xong. Bấy giờ anh chàng kia mới dám mạnh dạn đi vào trong phòng toan hỏi gì đó. Anh ta đang loay hoay thì chợt nghe thấy tiếng quát của anh Phát vang lên như sấm:

 

     - Anh kia đi đâu đấy? Vào đây làm gì?

 

     Tiếng của anh lớn và sang sảng đến nỗi, chàng kia giật nẩy mình mà đánh rơi cả quyển hồ sơ đang cầm xuống đất. Sau khi đã định thần lại, anh ta ngượng ngùng cúi xuống nhặt bộ hồ sơ lên. Thấy anh Phát ngồi chễm chệ trên ghế, tác phong lại bệ vệ uy nghiêm, đoán chắc đây là giám đốc, anh chàng liền mon men lại gần, ấp úng:

 

     - Dạ! Thưa anh!… em muốn trình bày… chút việc…

 

     Rồi anh ta đặt bộ hồ sơ xin việc lên bàn. Anh Phát nhìn thẳng vào mặt chàng thanh niên kia, giật giọng:

 

     - Đưa đây!

 

     Anh chàng kia lại giật mình, vội cầm bộ hồ sơ bằng cả hai tay để đưa cho anh Phát.

 

     Lúc sau, anh Phát ngẩng mặt lên, hạ giọng:

 

     - Ngồi xuống đi!

 

     Bấy giờ anh chàng tội nghiệp kia mới dám khép nép ngồi xuống mép ghế, nhưng vẫn cứ nhấp nhổm không yên.

 

     - Xin vào đây làm việc hả? Học trường gì ra? Đã từng đi làm ở đâu chưa? – Giọng anh Phát lại sang sảng cất lên.

 

     Ngồi cách đó vài dãy bàn, chúng tôi im lặng đưa mắt cho nhau, cố nhịn cười. Vì tất cả đang được chứng kiến một vở kịch mà anh Phát đang đóng rất xuất sắc. Cho dù anh không phải là sếp, cũng không phụ trách công việc tuyển dụng nhân sự, nhiệm vụ của anh chỉ là lái xe chở hàng mà thôi. Có người định mở miệng nói, nhưng thấy anh chàng kia tin quá nên lại thôi, cứ im lặng để xem mọi việc tiếp diễn thế nào.

 

     Anh chàng xin việc kia lắp bắp trình bày những gì với anh Phát không rõ, nhưng nhìn nét mặt thì biết là anh ta đang run lắm. Sau khi trình bày xong, anh ta khúm núm cầm bao thuốc lá bằng cả hai tay mời:

 

     - Dạ! Mời giám đốc hút thuốc!…

 

     Có người suýt bật cười ra thành tiếng, liền bị một cái véo đau điếng của người ngồi bên cạnh.

 

     Chẳng hề khách sáo, anh Phát rút ngay một điếu thuốc rồi châm lửa hút. Thấy thái độ tự nhiên của “giám đốc”, anh chàng xin việc đã bớt run hơn, lấm lét nhìn anh đợi chờ, hy vọng. 

 

   Thời gian chậm chạp trôi, chúng tôi nghe rõ cả tiếng lạch cạch của chiếc kim đồng hồ treo tường đang nhích dần từng chút một.

 

     Tuy dáng dấp và phong thái anh Phát giống giám đốc thật, nhưng nòng nọc vẫn là nòng nọc, đâu phải cá trê. Thấy không thể đóng kịch được mãi, anh Phát đẩy bộ hồ sơ sang một bên, đoạn nhìn người thanh niên kia, hạ màn:

 

     - Nói thật để anh khỏi phải đợi nhé! Tôi không phải là giám đốc đâu. Nếu anh cần nạp hồ sơ thì hãy đến phòng tuyển sinh. Cứ đi hết dãy hành lang này rồi lên tầng hai, ở đó có tấm bảng đề…



Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Mỹ Nhân áo trắng


Trời nhập nhoạng tối, con đường trước ngõ lúc này chỉ là một dải nhờ nhờ, không còn nom rõ nữa. Trên mấy cành ổi trong vườn, lũ đom đóm đã bắt đầu chấp chới lập lòe như những ánh ma trơi. Văn Lang mang cái ghế tựa ra ngoài sân, đặt dưới giàn hoa thiên lý để ngồi hóng mát một lúc. Gớm! Đang mùa hè nóng bức thế này mà lại mất điện. Ngoài trời gió thổi nhẹ, không khí mát mẻ và dễ chịu hơn trong nhà nhiều lắm. Ngôi nhà của Văn Lang nằm ở rìa thôn, đối diện với cánh đồng chiêm xanh mướt. Lúc này trời đã tối hẳn, cảnh vật chìm trong bóng tối mịt mù. Tuy vậy anh vẫn chưa thắp nến lên, cứ hẵng để như thế cho mát một lúc đã.

 

 Năm nay Văn Lang đã ngoài ba mươi tuổi, thế nhưng người ta vẫn thấy anh ở vậy mà chưa chịu lập gia đình. Song thân của anh đều đã mất cách đây mấy năm. Lẽ thường, anh cũng phải tìm người nâng khăn sửa túi để mà chăm lo gia đạo. Vì thế mà họ hàng làng mạc, cũng lắm người để tâm dục dã anh nhiều lắm.

 

 Bấy giờ gió nồm từ cánh đồng thổi vào mát rượi, xoa dịu và mơn man lên khắp da thịt.  Cả ngày nóng bức, giờ này khí hậu mát mẻ cũng dễ sinh buồn ngủ. Văn Lang ngồi tựa hẳn vào lưng ghế, rồi bắt đầu lim dim mắt. Đương lúc mơ màng, chợt cảm giác như bị một luồng điện chạy nhanh qua người, khiến anh giật mình choàng tỉnh. Dường như có một hình ảnh mờ ảo nào đó đang thấp thoáng trước mặt thì phải. Văn Lang căng mắt nhìn kỹ, đúng là có bóng dáng một người mặc áo trắng từ ngoài ngõ đang đi vào. Cái bóng đó cứ lớn lên và rõ dần, khi đến gần thì hóa ra là một người con gái.

 

 Văn Lang chưa kịp nói gì, thì đã nghe một giọng nói thánh thót cất lên:

 

- Chào anh! Anh đang ngồi hóng mát đấy ư?...

 

Văn Lang líu ríu:

 

- Cô...là?...

 

- Em đi làm đồng qua đây. Khát quá nên vào xin anh ngụm nước. Nhà em ở xã bên...

 

À! Thì ra là một cô gái ghé vào xin nước uống. Văn lang liền đứng dậy, nói:

 

- Cô chờ tôi thắp nến đã nhé. Nhà đang bị mất điện...

 

Rồi anh vén tấm rèm lên, đi vào nhà trong để thắp nến. Khi ngọn nến đã được thắp lên bập bùng, bấy giờ mới có thể nhìn thấy mọi vật xung quanh. Trước mắt Văn Lang là một cô gái có vẻ đẹp mê hồn, khuôn mặt thanh tú, ánh mắt sáng rỡ tựa sao sa. Như một kẻ mộng du, Văn Lang rót nước mà cứ để tràn cả ra bên ngoài.

 
   Đặt cái cốc xuống bàn mà miệng anh vẫn còn lắp bắp:

 

- Mời…mời cô...uống...nước!

 

Cô gái nhoẻn cười, nụ cười xinh tươi như sen hồng mới nở, rồi nhẹ nhàng vịn tay ngồi xuống ghế. Để khỏi bị cái không khí lặng im làm mất đi vẻ tự nhiên của câu chuyện, cô gái ngước nhìn Văn Lang, giới thiệu:

 

- Tên em là Kim Hồng!...

 

Trong ánh nến mờ tỏ, nhan sắc của Kim Hồng khiến cho hoa nhường nguyệt thẹn. Dáng điệu lả lướt mảnh mai, chẳng khác nào là một nàng tiên giáng thế vậy. Vốn là người khó tính với đàn bà con gái, vậy nhưng lúc này Văn Lang cảm thấy mình như đang lạc vào cõi mê cung tình ái mà không tìm thấy lối ra. Cứ thế, anh ngẩn người ra, đăm đăm nhìn Kim Hồng mà không hề chớp mắt. Một lúc sau, anh mới thốt nên lời:

 

- Hẳn là cô cũng ít khi ra đến ngoài. Vì tôi chưa bao giờ trông thấy một người con gái nào xinh đẹp như vậy cả?...

 

Kim Hồng lại nhoẻn miệng cười, khiến cho anh như ngây ngất trong men say. Khi cô cười, anh để ý bên khóe miệng có một nốt ruồi màu son, như càng điểm tô thêm cho cái vẻ duyên dáng vô song vậy.

 

Thấy Văn Lang cứ nhìn mình đắm đuối, Kim Hồng ngượng ngùng đứng lên:

 

- Cảm ơn anh đã nhiệt tình tiếp đón! Bây giờ em xin phép về nhà kẻo bố mẹ còn đang mong!...

 

Lúc này Văn Lang mới sực tỉnh:

 

- Không có gì! Lúc rảnh lại mời cô ghé chơi...

 

- Dạ!...

 

Kim Hồng liếc mắt đưa tình cho anh, đoạn cô nhẹ nhàng quay gót trở ra. Văn Lang ngơ ngẩn như bị ai đó bắt mất hồn vía, cứ mãi nhìn theo hình bóng cô gái cho đến khi khuất hẳn mới thôi. Lũ chó mấy nhà hàng xóm thi nhau sủa loạn xạ, như thể là chúng vừa phát hiện ra một điều gì đó khác lạ lắm vậy. Kim Hồng vừa mới đi khỏi một lúc thì đột nhiên có điện, cả căn nhà lại trở nên sáng bừng. 

 

o0o

 

Từ bữa ấy, lúc nào Văn Lang cũng tương tư đến người đẹp Kim Hồng mà chẳng kể phút giây. Anh cho rằng, sự gặp gỡ đó là một mối nhân duyên định mệnh mà số phận đã dành sẵn cho mình. Người đâu mà xinh đẹp lạ thường, ăn nói lại nhẹ nhàng có duyên. Tuy không thổ lộ cùng ai, nhưng Văn Lang luôn cảm thấy mong nhớ và hy vọng một ngày cô sẽ lại ghé thăm. Đã nửa tháng trôi qua kể từ lần gặp gỡ ấy, vậy mà vẫn chưa thấy bóng dáng Kim Hồng đâu. Trong lòng Văn Lang đã có ý ngóng trông. Anh bồn chồn đến đi đứng, ăn ngồi không yên.

 

 Bữa nay, trời vừa tối thì Văn Lang lại mang ghế ra sân ngồi. Anh muốn nhớ lại cái phút giây hội ngộ ban đầu với người đẹp trong mộng. Gió lại thổi mơn man, Văn Lang bắt đầu nhắm mắt thiu thiu ngủ. Bất chợt có tiếng chó sủa râm ran khiến anh mở bừng mắt. Gì thế kia? Anh đang tỉnh hay mơ đây? Cái bóng dáng thướt tha hôm nào lại đang từ ngoài cổng đi vào. Màu áo trắng thấp thoáng hiện ra, một lúc một rõ dần. Khi người ấy đến gần thì anh nhận ra ngay Kim Hồng. Rõ ràng là thực chứ không phải mơ, cô đang đứng ngay trước mặt anh, rạng rỡ và xinh tươi.

 

Không dấu nỗi niềm hạnh phúc bất ngờ, Văn Lang vội vàng đứng lên:

 

- Hôm nay cô lại đi làm qua. Hay là?...

 

Kim Hồng nghiêng mái đầu ngây ngất hương thơm, đáp rằng:

 

- Dạ! Em đi làm về, nhân tiện ghé vào thăm anh...

 

    Qua ánh điện hắt ra từ trong nhà, Văn Lang nhìn thấy khuôn mặt cô lúc này đang ửng đỏ.

 

     Nhận ra thái độ của mình hơi có phần hơi vội vàng, hấp tấp, anh liền mỉm cười chữa thẹn:

 

- Mời em vào nhà xơi nước!

 

Kim Hồng thẹn thùng theo chân anh vào nhà. Cô lại ngồi đúng vào vị trí mà bữa trước mình đã từng ngồi, hai tay mân mê tà áo mỏng. Một thoáng im lặng, bất chợt cả hai cùng ngước mắt nhìn nhau, rồi lại cùng thẹn thùng cúi xuống.

 

- Em nói ở xã bên. Vậy chứ nhà ở đâu? Song thân có còn khỏe không? –Văn Lang mới quyết định mở lời.

 

- Dạ! Song thân em đã già. Nếu anh muốn ghé thăm, hãy đi hết con đường trước mặt này, đến một ngã ba, rẽ phải chừng trăm thước là tới nơi. Nhà em ở dưới một gốc đa to, bên cạnh có cái miếu thờ thổ địa...

 

Cổ nhân có câu “Xa tận chân trời, gần ngay trước mắt”. Thì ra nhà cô cũng ở ngay xã bên chứ đâu. Gần như thế mà bấy lâu anh không hề được biết, rõ là chỉ khi có duyên thì người ta mới có thể gặp mặt nhau vậy. Rồi họ lại trò chuyện thêm một lúc nữa. Hai người tâm đầu ý hợp lắm, đầu mày cuối mắt đưa duyên.

 

Chừng thấy ngồi chơi đã lâu, Kim Hồng đứng dậy từ biệt ra về. Văn Lang vội cầm lấy tay cô:

 

- Mong ông tơ bà nguyệt xe duyên, để cho chúng mình sớm kết thành đôi lứa!...

 

Kim Hồng cúi đầu mà không nói gì. Hai người cứ thế đứng nhìn nhau hồi lâu, ra chiều bịn rịn lắm.

 

Từ ấy, họ gặp gỡ thường xuyên, cứ ít bữa là cô lại ghé thăm anh một lần. Tình cảm cũng vì thế mà ngày một mặn nồng, rồi họ cùng nhau thề non hẹn biển. Văn Lang đang sống những ngày trong mơ, lòng đầy hạnh phúc và mãn nguyện. Anh thầm cảm tạ trời đất đã đưa đến cho mình một người con gái như ý, đằm thắm và xinh tươi. Đợi khi có dịp, anh định sẽ tìm đến nhà để mà thăm hỏi và thưa chuyện với song thân cô.  

 

Có đôi khi, Văn Lang cũng thắc mắc về người yêu của mình. Từ lúc quen nhau, anh chỉ thấy Kim Hồng mặc một bộ đồ trắng mà thôi. Có thể đó là màu mà cô yêu thích? Có lẽ vậy, vì khi Kim Hồng mặc đồ màu trắng thì nom cô càng quyến rũ và xinh đẹp. Còn nữa, lần nào cô cũng đến thăm anh vào buổi tối cả. Điều này cũng dễ hiểu, vì cô vốn là người chịu thương chịu khó, giờ này mới đi làm đồng về. Có lần Kim Hồng đi trở ra, anh nhìn theo đến đầu ngõ thì bổng nhiên thấy cô biến mất. Chắc là vì buổi tối, mắt anh bị quáng đấy thôi. Khi mới yêu, người ta thường có muôn vàn lý do để mà thắc mắc, để tìm hiểu về người mình thương, âu đó cũng là lẽ thường vậy. Tình yêu thường lấn át lí trí, người ta chỉ muốn nghĩ, muốn tin vào những gì là đúng đắn và tốt đẹp nơi người mình yêu mà thôi.

 

Đã lâu rồi không thấy Kim Hồng ghé thăm. Văn Lang như ngồi trên đống lửa, nhấp nhổm không yên, trong lòng lúc nào cũng như có lửa đốt. Có chuyện gì chẳng lành xẩy ra với cô chăng? Hằng ngày, mỗi khi trời tối, anh lại nhìn ra cổng để ngóng trông, nhưng cái bóng áo trắng kia thì vẫn bặt vô âm tín.

 

Tối nay, trằn trọc mãi mà Văn Lang vẫn không sao ngủ được. Mãi đến canh ba, vì mệt quá, anh mới thiếp đi. Trong giấc mộng, anh thấy Kim Hồng hiện lên, khóc lóc:

 

- Thảm thương thân em quá! Mấy hôm trước, khi em vừa ra khỏi nhà thì gặp một đám ác ôn. Chúng dùng gậy đánh em đến chết rồi bỏ đi. Nếu anh thương em thì hãy tìm đến mà chôn cất, để hồn em còn được siêu thoát. Anh ơi!...

 

Nói rồi cô lại che mặt mà khóc thảm thiết. Văn Lang giật mình tỉnh dậy, mồ hôi toát ra đầm đìa. Anh bật đèn ngồi vào bàn, cứ nghĩ mãi về giấc mộng vừa rồi. Lòng cảm thấy bất an, thảng thốt mà không rõ thực hư thế nào. Từ lúc đó Văn Lang không tài nào chợp mắt thêm được nữa, cứ ngồi vò đầu bứt tai mà mong cho trời mau sáng.

 

Hôm sau, Văn Lang quyết định làm theo những gì mà Kim Hồng đã báo đêm qua. Nhớ lời người yêu, anh đi hết con đường trước nhà, rồi đến một ngã ba. Từ ngã ba lại rẽ phải khoảng trăm thước nữa. Quả thực, ở đấy có một cây đa cổ thụ sum suê, bên cạnh là cái miếu thổ địa phủ đầy rêu phong. Anh để ý tìm nhà thì không thấy, vì quanh đây tịnh không có lấy một ngôi nhà nào cả. Lời Kim Hồng lúc này lại văng vẳng bên tai: “Nhà em ở dưới gốc cây đa cổ thụ”. Văn Lang nhìn xuống gốc cây thì thấy có một cái hang Chuột to, hang hốc ăn sâu như địa đạo. Anh lại đưa mắt nhìn quanh, chợt phát hiện gần cửa hang có một con Chuột bạch đang nằm chết. Văn Lang cúi xuống để nhìn cho rõ hơn, rõ ràng đó là một con Chuột cái, bên khoé miệng còn có một chấm đỏ màu son. Bất giác Văn Lang rơi lệ mà nhớ đến tình nghĩa bấy lâu với Kim Hồng. Đây đúng Là Kim Hồng rồi, đêm qua cô đã hiện về để báo mộng cho anh.

 

Một bác nông dân đi làm đồng qua, thấy Văn Lang khóc thương con Chuột Bạch thì lấy làm lạ lắm, bèn dừng lại nói:

 

- Ba hôm trước, tôi đi qua đây thì thấy có mấy đứa trẻ chăn trâu đập chết con Chuột này, khi nó vừa từ trong hang chạy ra. Người ta nói rằng, nó là một con chuột Bạch đã thành tinh, ban đêm thường biến thành con gái đẹp để quyến rũ đàn ông đó…

 

Như để minh chứng, bác ta chỉ tay vào cái hang chuột bên dưới gốc Đa, đoạn lại vác cuốc lên vai tất tả bước đi.

 

Văn Lang cứ ôm mãi xác con Chuột Bạch vào lòng mà âu yếm, khóc thương như đang nói chuyện với người yêu vậy. Lòng những xót xa, anh tìm một khoảng đất trống cạnh cái miếu thờ thổ địa rồi sau đó bắt đầu chôn cất xác con chuột một cách cẩn thận.