Thứ Hai, 7 tháng 7, 2025

Tơ Hồng mong manh

Phong đang ngồi chăm chú xem sách thì bổng thấy Toàn từ đâu ngó đầu vào, nhoẻn miệng cười rất tươi.

- A! Cậu lên lúc nào đấy? – Phong ngẩng lên, nói như reo.

- Vừa mới từ Hà Nội lên xong – Toàn đáp rồi bước vào trong phòng, cái bóng cao lớn choán gần hết cả khung cửa. Trên hai ống quần và cả đôi giày mũi cong kiểu ý của cậu vẫn còn vương đầy những đám bụi đường xa.

- Đi lối nào mà lắm bụi thế? – Phong hỏi và tiện tay phủi những hạt bụi đỏ bám li ti trên vai áo sơ mi của Toàn.

- Gần hết đường cao tốc thì em rẽ lối tắt trong làng về đây.

Rồi Toàn đưa tay vỗ bồm bộp vào cái túi quần căng phồng, hí hửng:

- Chúng mình ra quán chị Xuân đi!

Cơ quan họ mới hoạt động, lương còn thấp, nhân viên ăn uống phải ghi sổ nợ, chi tháng trước thì hụt tháng sau. Cuối tháng, hầu như ai cũng phải về nhà để lấy thêm tiền cả. Toàn mới về Hà Nội, chắc là ví tiền đang rủng rỉnh đây. Quán chị xuân là nơi mà họ thường ngồi để giải khát hoặc bia hơi tán gẫu mỗi khi rảnh. Quán chỉ cách cơ quan chừng trăm mét, gần ngã ba đường cao tốc, rộng rãi và cây cối sum suê. Khung cảnh ở đây yên bình, bảng lãng, vốn là nét đặc trưng quen thuộc của miền trung du này.

- Nhanh lên! Chạy xe ba mươi cây số, khát khô cả cổ họng rồi đây này! – Toàn vừa giục vừa soi lại khuôn mặt mình trong tấm gương hình bầu dục treo trên tường.

Trời đang nóng bức mà có mấy cốc bia hơi mát lạnh để vừa nhâm nhi vừa hàn huyên thì còn gì bằng. Cái thú ấy vừa bình dân vừa tao nhã, dễ khiến cho cánh đàn ông khó bề cưỡng lại được. Vả lại, chủ nhật, hầu như mọi người đều về nhà cả, cơ quan vắng tanh, anh đang mong có người lên để trò chuyện cho đỡ buồn.

- Đi thì đi! – Phong để cuốn sách vào kệ rồi đứng lên, nói.

Hai người khoá cửa, ngồi lên chiếc Dreem màu mận chín của Toàn và bắt đầu chạy vè vè ra khỏi cơ quan.

Quán lúc này vắng người. Chị Xuân chủ quán là một người phụ nữ trung niên có vẻ người và khuôn mặt phúc hậu. Tuy vóc dáng hơi đẫy đà, nhưng với làn da trắng và ánh mắt đen sắc sảo, rõ ràng là ở chị vẫn còn lưu giữ những nét gì đó của một thời xuân sắc mà chưa hề phai nhạt. Tuấn - cậu con trai - đang ngồi hì hục đẽo dừa trước quán. Mới học lớp mười mà cu cậu đã lớn tồng ngồng, đứng cao hơn mẹ cả cái đầu. Cậu diện quần sooc, áo phông in hình logo quảng cáo, trước trán còn có một cái xoáy tóc hình trôn ốc nom cứ ngồ ngộ.

- Bữa trước cô gì đến mua hàng, có nhắc đến chú Phong đấy. Người yêu chú phải không? – Chị chủ quán nói ngay khi họ vừa kéo ghế ngồi xuống.

- Cô Diệu Lê! – Toàn mỉm cười, nhắc.

- Phải rồi, cô Lê! – Chị Xuân lặp lại.

- Cái chị đeo kính phải không mẹ? Chị ấy xinh nhỉ? – Tuấn ngừng tay đẽo dừa, vừa nói vừa nháy mắt đầy vẻ tinh nghịch.

- Người yêu chú Phong mà lại. Phải xinh chứ! - Bà mẹ vui vẻ đáp lời con.

Phong từ nãy vẫn ngồi im, bấy giờ mới lên tiếng:

- Lúc nào vậy chị? – Anh đưa tay vuốt mấy sợi tóc loà xoà trước trán, hỏi.

- Hình như tuần trước thì phải.

Phong và Toàn đưa mắt nhìn nhau đầy ý nghĩa. Giờ này trong số họ, chẳng ai có thời gian nghĩ đến chuyện tình cảm cả. Công việc còn chưa ổn định, lương lậu thì không sống nổi, làm sao mà dám yêu với đương kia chứ. Cái khó nó bó cái khôn, các cụ ta đã dạy rồi. Cơ quan họ bề ngoài khang trang, người ngoài nhìn vào cứ tưởng là kinh doanh phát đạt lắm. Thế nhưng bao giờ cũng vậy, chỉ có những người trong cuộc là mới hiểu được sự tình mà thôi.

Chị Xuân tiến lại phía họ, trên tay bê khay bia sóng sánh. Vẫn với vẻ mặt vô tư lự, chị nói:

- Cô gái ấy được đấy. Đẹp người đẹp nết. Làm cùng cơ quan với chú à?

- Vâng! – Phong đáp, tiện tay dẹp gọn mấy thứ cốc chén trên bàn để chị đặt cái khay xuống.

- Vậy thì tiện quá. Chú cũng nên lo chuyện gia đình đi là vừa. Lớn tuổi rồi còn gì. Chú xem, chị kết hôn năm hai ba tuổi, còn anh hai bảy. Vậy mà năm nay thằng cu Tuấn đã học lớp mười rồi đấy. Thời gian nhanh lắm – Chị vẫn liến thoắng.

Lời khuyên của chị Xuân khiến Phong để tâm lắm. Dù sao năm nay anh cũng đã hai bảy tuổi, gần đến cái tuổi tam thập nhi lập rồi. Thế nhưng cái nổi niềm trong lòng anh thì chị nào hiểu được.

Hai người gọi thêm một ít đồ nhắm khô rồi bắt đầu rót bia. Giữa họ không bao giờ thiếu chuyện, chuyện cơ quan, công việc, rồi thì những suy tính và dự định cho tương lai. Là dân trí thức từ Hà Nội lên, lại cùng chung hoàn cảnh nên họ hiểu con người của nhau lắm. Câu chuyện cứ thế đượm dần theo hơi men. Mặt Toàn đã bắt đầu đỏ ửng, nhưng hai vành tai hơi vểnh của cậu thì lại chuyển sang nhờn nhợt và trắng bệch như vôi. Giọng nói méo đi, ngọng nghịu, còn cái miệng thì cứ dẻo quẹo như có ai đó cầm lấy mà xoắn lại vậy. 

Ở phía bên kia đường, ngôi nhà đối diện nằm ẩn mình sau những lùm cây um tùm. Những sợi tơ hồng quấn quýt, nhuộm vàng và che kín gần hết mái nhà khum khum cùng tấm biển chỉ đường phía dưới. Ở đây thiên nhiên thắng thế, là âm hưởng chủ đạo mọi lúc, mọi nơi. Cây cối cứ thế thoải mái phô ra những sắc thái tự nhiên và đầy kiêu hãnh của chúng mà không hề sợ bị bàn tay thô bạo của con người can thiệp vào. Điều này cũng thật lý thú, vì nó trái ngược hoàn toàn với cái vẻ ồn ào và bức bối như ở dưới thành phố.

 Toàn nhấp thêm một ngụm bia rồi chống cằm ngồi đăm chiêu. Lát sau, cậu nói, giọng chùng xuống nhưng cũng vừa đủ để cho Phong nghe:

- Em nghĩ là Diệu Lê yêu anh thật lòng đấy. Chị Xuân nói đúng. Anh năm nay cũng đã khá tuổi rồi. Nếu hai người đến được với nhau thì cũng tốt!...

Phong châm thuốc, nhả khói, hơi men cũng đã làm cho khuôn mặt anh tái dần đi. Mái tóc đen chải hất cao, để lộ vầng trán rộng và khuôn mặt điển trai đầy kiêu hãnh. 

- Đôi lúc mình cũng muốn vậy. Nhưng mà công việc thì mãi vẫn chẳng đâu vào đâu. Tình cảnh này e không ổn lắm đâu!– Phong trầm ngâm đáp.

- Nhưng nếu cứ đợi hoàn cảnh thuận lợi thì biết đến bao giờ? – Toàn nhìn Phong, hỏi.

- Cứ tâm thế nửa đi nửa ở thế này thì chẳng thể biết chắc chắn được điều gì cả. Phụ nữ lấy chồng là để được yên ổn, chứ không phải để lận đận, nổi nênh theo dòng nước. Nếu như là tuồng gió trăng thì không nói làm chi. Đằng này mình là một con người có trách nhiệm. Mình thương người ta thì không muốn làm cho người ta phải khổ, rồi còn khổ luôn cả mình.

Toàn gật đầu, thở dài:

- Chuyện của em với Hương cũng vậy. Cô ấy cứ thúc dục suốt. Nhưng vì cũng nghĩ như anh nên em vẫn cứ lần lữa.

Hai người lại cụng li, chẳng hiểu vì đồng cảm hay vì phiền não nữa. Toàn xé một miếng bò khô đưa lên miệng nhay nhay, rồi nói:

- Hay là duyên đến thì mình cứ đón nhận. Khó khăn thì mình khắc phục. Chứ nếu cứ đợi cho thuận cảnh thì e khó?…

Phong nín lặng, quay nhìn ra ngoài đường.

Trời đã ngả về chiều. Xe cộ trên đường cũng đã bắt đầu thưa thớt. Thi thoảng lại nhìn thấy mấy chiếc xe máy chở đôi chạy qua, người nam cầm lái, nữ ngồi dán phía sau, phóng nhanh như lướt gió. Cuối tuần, người ta đưa nhau lên trên này để picnic, ngoạn cảnh. Hình ảnh dễ bắt gặp nhất là những chiếc ô tô tập lái từ Hà Nội chạy ngược lên. Phía sau vô lăng, người tập lái ngồi cứng đơ, mắt mở to căng thẳng. Người ngồi bên ghế phụ thì luôn miệng nhắc nhở, chỉ trỏ. Đường trung du cảnh đẹp, có những khúc cua, những đèo, những dốc để thử sức tay lái, vốn là cung đường mà cánh tài xế vẫn hằng yêu thích.

Mãi đến hơn 5 giờ chiều thì họ mới rời quán để ra về. Đến cổng cơ quan thì bắt gặp Diệu Lê và hai cô bạn cùng phòng cũng vừa đi chợ về. Họ chào Phong và Toàn rồi vừa trò chuyện rì rầm vừa lễ mễ xách đồ đi về phía ký túc xá. Những người khác cũng đã bắt đầu lục tục kéo lên cơ quan. Tiếng chào, tiếng thăm hỏi vang lên í ới. Cái không khí vắng vẻ, im ắng hôm qua giờ này đã được thay thế và lấp đầy bởi những âm thanh ồn ả của cuộc sống con người.

o0o

Lúc Phong đi họp về thì bắt gặp Dũng đang đứng đợi trước cửa phòng. Dũng làm cùng phòng với Diệu Lê và là người địa phương ở đây. Vừa nhìn thấy anh, cậu ta đã rối rít cả lên:

- Anh Phong đây rồi. May quá!

Phong đi vào phòng, đặt cuốn sổ lên bàn và ngồi xuống ghế. Dũng cũng lẽo đẽo bám theo.

- Có chuyện gì vậy em? – Anh nhìn Dũng, hỏi.

- Chị Lê nói anh đến phòng, chị ấy nhờ chút việc.

Đang cần phải làm gấp báo cáo, nên Phong nói:

- Nói với chị ấy là anh đang bận nhé.

- Nhưng…

- Gì nữa?...

- Tay Triệu lại đến quấy rầy chị ấy. Có nói thế nào thì hắn cũng không chịu đi cho. Cứ gọi là bám dai như đỉa ấy…

Triệu là anh chàng công tử con nhà giàu. Anh ta đi làm chỉ để cho vui chứ chẳng phải vì lương lậu gì sất. Trong khi người ta còn chưa có xe máy để đi thì anh chàng đã nghiễm nhiên lái ô tô riêng của mình đi làm. Lại nổi tiếng là người đào hoa, đời sống tình ái của anh ta lúc nào cũng có ít nhất mấy bóng hồng dập dìu vây quanh. Dĩ nhiên, một gã như hắn mà cứ bám riết lấy Diệu Lê để tán tỉnh thì chắc chắn là chẳng báo trước điều gì tốt lành cả.

Phong nhíu mày, nhưng chỉ lặng im mà không nói gì. Anh là người sống nội tâm, vì vậy mà Dũng cũng không dễ gì đoán được tình cảm của anh lúc này. Kỳ thực, trong lòng anh đang cảm thấy bối rối và có một chút gì đó lo lắng cho sự an nguy của Diệu Lê.

Lát sau, Phong đặt mạnh tay xuống bàn, nói:

- Em về nói với chị ấy. Nếu mình đã không thích người ta thì không thiếu gì cách để khiến cho họ hiểu. Chuyện này hoàn toàn phụ thuộc vào chị ấy. Anh không thể giúp được gì cả!

- Nhưng mà!...- Dũng gãi đầu sồn sột. Cậu ta muốn nói rằng, Diệu Lê làm vậy là vì muốn xác lập chủ quyền cho anh, rằng anh là người đàn ông mà chị ấy đã lựa chọn. Nhưng e nói như thế thì lộ liễu quá, đành lại thôi.

- Không “nhưng” gì cả. Cứ bảo với chị ấy như thế nhé! – Phong nhắc lại và với tay bật công tắc máy tính lên.

Nhưng cái khó cũng ló cái khôn. Trước tình huống khó khăn như vậy, trong đầu Dũng lại chợt nẩy ra một ý hay.

- À!...Ừ! Nếu vậy thì em cứ bảo với chị ấy là anh gọi nhờ chút việc là sẽ thoát được thằng cha ấy chứ gì! – Dũng vỗ mạnh tay vào trán, rồi quên cả chào Phong, cậu vội vàng quay người bước nhanh ra cửa.

Hôm sau, khi hai người vô tình chạm mặt trước sảnh, nàng đã ý tứ hỏi:

- Hôm qua em có nhờ anh chút việc. Chắc là anh bận quá nên đã không đến được phải không?...

Phong đứng lặng vài giây, rồi đáp, giọng nghiêm nghị:

- Diệu Lê này! Tôi không phải là kẻ thô lỗ và hiếu thắng như nhiều người đàn ông khác đâu. Tôi làm việc gì cũng có nguyên tắc cả. Mong em hiểu cho!...

Một thoáng nhíu mày, nàng nói:

- Em hiểu!...

Rồi nàng quay lưng bước đi. Dáng đi cắm cúi, tội nghiệp, ánh mắt đượm buồn, hư hao.

Cứ thế, hai người vẫn đi bên đời nhau, như gần mà như xa. Ở giữa họ là một sợi tơ hồng mong manh. Mỗi khi xa cách thì sợi tơ ấy kéo họ lại gần với nhau. Thế nhưng muốn gần gũi thì cũng chính sợi dây ấy lại đẩy họ ra xa. Thể nào cũng có một chuyện gì đó xẩy ra để rồi dẫn đến hiểu lầm, giận dỗi. Chẳng thể hiểu và cũng chẳng biết được duyên cớ vì đâu. Về mặt hình thức, họ là hai con người hoàn toàn tự do, chẳng hề liên quan gì tới nhau cả. Nhưng sâu thẳm trong tâm hồn, dường như lại đang có một sợi dây vô hình cột chặt họ lại với nhau mà không thể dứt ra. Cứ như thể người này là của người kia rồi vậy. Đã có rất nhiều  người quan tâm tới anh và cô, nhưng họ lại chẳng thể đến được với ai, mà chỉ một lòng hướng tới nhau. Ái tình cũng thật kỳ lạ. Nhiều khi nó không phải là thứ vật chất hữu hình, mà lại nằm ở những thứ vô hình mà ta không thể sờ, không thể nắm được.

Ngày lại ngày, tình cảm giữa hai người đã tiến triển đến mức, nếu một ngày mà không gặp mặt thì cảm giác cứ bồn chồn không yên. Lúc nào họ cũng muốn nhìn thấy nhau, dù chỉ là một thoáng lướt qua. Muốn được nghe giọng nói, tiếng cười của nhau, cho dù là người kia đang làm gì, ở đâu. Cuối tuần, nàng về nhà có hai ngày, vậy mà anh đã đứng ngồi không yên, cứ thơ thẩn và lóng ngóng như một người mất hồn. Chỉ đến khi nàng lên cơ quan, anh mới lại là chính mình, con tim anh mới vui trở lại.

o0o

Thời gian này, Toàn được công ty phân công làm công tác thị trường. Do yêu cầu của công việc, cậu thường xuyên phải đi xuống các địa phương để tuyển sinh mà ít khi có mặt ở cơ quan. Vì phải đi nhiều, mỗi khi về đến nơi, chiếc bô xe máy của cậu lại nóng rực, tóc tai thì rối tung, dựng đứng như lông nhím. Thế nhưng kết quả công việc thì lại chẳng thu được là bao. Phong thường bắt gặp cái lắc đầu chán nản kèm theo vẻ mặt buồn rầu của Toàn mỗi khi cậu dựng chân chống xe máy xuống sân. Mỗi lần như vậy, cậu lại thở dài đánh thượt rồi buông một câu đầy cảm thán:

- Đến tiền phụ cấp xăng xe cũng không có thì còn công việc cái nỗi gì!

Lời của Toàn cũng là tâm trạng chung của mọi người trong cơ quan lúc này, bởi vậy mà ai cũng hiểu cả. Nghe xong, người thì mỉm cười ý nhị, kẻ lại nhân đó tán thêm để cho khổ chủ thêm phần cay đắng.

Rốt cục vì chế độ lương bổng thấp, lại không có tương lai, nhiều người trong cơ quan đã tự ý nghĩ việc. Những người còn lại, tuy hằng ngày vẫn điểm danh ở văn phòng đều đặn, nhưng cũng có rất ít việc để làm.

Trong một lần đi thị trường về, Toàn đã tìm gặp Phong và nói:

- Anh thấy đấy. Nhà xưởng, cơ sở hạ tầng họ đều cho thuê hết cả rồi. Chúng mình còn có việc gì để mà làm ở đây nữa kia chứ? Mà cái chuyện đi thị trường ấy mà, nó không phù hợp với hai chúng mình lắm đâu. Chẳng liên quan gì tới ngành học cả. Những việc ấy, có khi mấy thằng cha thất học và khéo ăn khéo nói còn làm tốt gấp vạn lần mình ấy chứ.

Phong ngẫm nghĩ một lúc, rồi mỉm cười chua chát:

- Ừ! Mà đúng như thế thật! – Rồi anh móc túi, lấy thuốc lá ra hút.

Toàn cũng rút một điếu. Cả hai châm thuốc hút, lòng những ngập tràn suy tư. Họ hiểu rằng, với tình hình này, việc phải tìm cho mình một công việc khác phù hợp hơn cũng chỉ là vấn đề sớm muộn mà thôi.

o0o

Tiết trời tháng sáu, thi thoảng trời lại đổ cơn giông bất chợt. Có cảm giác như mưa ở miền trung du này lớn và dữ dội hơn mưa ở dưới Hà Nội rất nhiều. Mưa ào ào trút lên cảnh vật, làm ngả nghiêng những ngọn cây cao lớn trên ngọn đồi trước mặt. Mưa dội vào mái tôn nhà xưởng, nghe như âm thanh sầm sập của một đoàn tàu hoả tốc hành đang ồn ào lướt qua. Lúc đầu người ta bất ngờ, rồi sau đó hốt hoảng tìm nơi trú mưa, thoáng chốc, khoảng sân rộng thênh thang trước cơ quan đã không còn một bóng người nào nữa.

Phong che tay lên đầu, men theo mái tôn nhà xưởng để đi vào khu ký túc xá. Qua những tấm kính mờ mờ vì nước mưa, anh nhìn thấy các công nhân trong những bộ đồng phục màu xanh lơ đang cắm cúi làm việc bên trong. Những chiếc máy may công nghiệp được đặt ngay hàng thẳng lối, người quản đốc xưởng may chắp tay ra sau lưng, đi đi lại lại quan sát. Khu nhà xưởng này đang được một công ty may gia công thuê. Dãy nhà ba tầng phía sau thì cho một trung tâm xuất khẩu lao động thuê dài hạn để dạy ngoại ngữ. Cơ sở hạ tầng bỏ không, vì vậy mà người ta cho thuê để vừa có thu nhập vừa khỏi lãng phí.

Đến cuối dãy nhà xưởng thì Phong bắt gặp Diệu Lê cũng đang trú mưa. Nàng đứng một mình, co ro, hai bờ vai trắng mịn ướt mưa, hằn lên sau lớp áo mỏng tròn lẳn. “Sao lại có sự trùng hợp đến kỳ lạ thế này nhỉ?” – Anh nghĩ và mím chặt môi, cố kìm nén những xốn xang trong lòng. Khi hai người nhận ra nhau, cả hai đều cảm thấy bối rối. Lúc này, ở đây, chỉ có cơn mưa và họ với nhau. Giữa họ, đang có rất nhiều điều muốn nói, vậy nhưng chẳng hiểu vì sao chẳng ai thốt nên lời.

- Anh Phong này! – Hồi lâu, nàng cất tiếng như để xoá tan bầu không khí im lặng.

- Diệu Lê nói gì cơ?

Nàng đan ngón tay vào nhau, cúi đầu, ngượng ngùng:

- Cuối tuần này anh có bận không?

Anh dự định thứ bảy này sẽ về Hà Nội chơi, ngoài ra chẳng bận gì cả. Vì vậy anh nói:

- Cuối tuần tôi rảnh. Mà có việc gì không?

Má cô ửng đỏ:

- À!...Chuyện là… em muốn mời anh tuần này về nhà em chơi!

Lời đề nghị của cô hơi đường đột, khiến anh không khỏi cảm thấy bối rối. Ở cơ quan, cô chưa từng mời ai là con trai về chơi nhà cả. Như vậy rõ ràng anh là một ngoại lệ rồi còn gì. Trống ngực đập thình thình vì thấp thỏm, anh nhìn sang cô dò hỏi. Cô thẹn thùng, quay mặt tránh ánh mắt của anh. Phong nhíu mày, làm như thể đang suy nghĩ rất lung. Lát sau, anh nói:

- Nếu vậy tôi sẽ về cùng Lê. Sẵn dịp này, tôi cũng muốn sang thăm hai bác bên ấy luôn một thể!...

Nàng ngước nhìn anh, mỉm cười rạng rỡ. Rồi trong một giây phút mà niềm hạnh phúc đến bất chợt, nàng nói, giọng hồ hởi:

- Chiều thứ bảy anh nhé. Em sẽ đợi anh ở phòng!

Mưa vẫn rơi mịt mù, trắng xoá cả không gian. Nước từ trên mái tôn nhà xưởng nhỏ xuống thành vệt dài như giăng màn. Bên cạnh cái bóng cao lớn của anh, cô cảm thấy mình như nhỏ lại, như được bao bọc và chở che. Có anh ở bên, cô không còn cầu mong cho cơn mưa ngoài kia mau tạnh nữa.

Chiều thứ bảy đến nhanh trong sự mong mỏi và hồi hộp của cả hai người. Phong hiểu tầm quan trọng của chuyến đi này, vì nó có giá trị như một sự ra mắt nhạc phụ, nhạc mẫu tương lai của anh. Vì vậy mà từ đầu giờ chiều, anh đã ăn mặc chỉnh tề. Chiếc quần âu và chiếc áo sơ mi trắng đã được anh là ủi phẳng phiu. Đôi giày đen cũng được đánh xi bóng loáng, không một vết bụi. Sau khi diện bộ cánh ấy, anh còn cẩn thận ngắm nghía lại mình trong gương một lần nữa rồi yên tâm ngồi đợi.

Gần một tiếng đồng hồ trôi qua, thế nhưng vẫn chưa thấy Diệu Lê sang gọi. Buồn tình, anh lấy sách ra xem để cho đỡ sốt ruột.

Một lúc, cũng không thấy động tĩnh gì. Thế này thì muộn mất, hay là cô ấy quên nhỉ? Không thể đợi thêm được nữa, Phong đặt sách xuống rồi đi sang phòng của Diệu Lê.

 Khi sang đến nơi thì thấy chỉ có một mình Hiền đang ngồi trong phòng. Cô nàng nhìn anh và cất giọng thanh thanh:

- Chị Lê nói là anh đợi chị ấy một lúc. Lát nữa hãy sang đón.

Phong lại yên trí về phòng xem sách và chờ đợi. Nhưng đến khi nhìn đồng hồ thấy đã 5 giờ chiều thì anh giật mình: “Thế này thì hỏng. Từ đây chạy xe máy về nhà nàng cũng phải mất tiếng rưỡi. Giờ này mà vẫn chưa đi thì trời tối mất!”. Lòng nóng như lửa đốt, anh lại vội vã sang phòng tìm cô lần nữa. Vẫn là Hiền đang ngồi một mình với lời nhắn:

- Mấy chị đang đi dạo ngoài sân trước cơ quan ấy. Anh ra gọi chị ấy đi!

Lần này thì phải nói là Phong bực mình hết sức. Đã đợi gần một buổi rồi, vậy mà bây giờ lại không thấy mặt mũi đâu. Tình cảnh này mà lại còn dạo với chơi được hay sao? Cho rằng Diệu Lê đã cố tình trêu đùa mình, vì vậy mà thay vì đi gọi cô thì anh đã hầm hầm bỏ về phòng mà quyết định không đi nữa.

Hôm nay thực là một ngày đặc biệt đối với Phong, ngày mà có lẽ đã quyết định đến chuyện tan vỡ tình cảm giữa anh và Diệu Lê, thay vì phải được gắn kết bền chặt hơn. 

Thế đấy, cứ như có ma xui quỷ khiến thế nào ấy. Giữa họ, ông trời cứ làm cho mọi thứ sai lệch đi mà chẳng hề có sự ăn nhập gì với nhau cả. Tình yêu mà cứ như trời đày, trời hành tội vậy. Thế mới biết, tình yêu đích thực có nhiều vị chua chát, đắng cay hơn là những vị ngọt ngào, hạnh phúc.

Sau lần ấy, họ đã giận nhau rất lâu, đến nỗi không chịu nhìn mặt nhau nữa.

Đứng trước ngưỡng cửa của tình yêu tan vỡ, Diệu Lê đã buồn và khóc rất nhiều. Có những đêm, nàng thức trắng và ra đứng ngoài thềm. Khi cả khu ký túc xá đã chìm trong giấc ngủ, nàng vẫn đứng một mình, lưng dựa vào cột, mặc cho sương rơi lạnh giá cho đến khi trời sáng.

Chính vì cái sự éo le như thế mà chuyện tình cảm của họ đã được cả cơ quan biết đến. Bác bảo vệ già, trong một lần say khướt đã ngước cặp mắt đỏ đòng đọc vì rượu nhìn anh và cất giọng lè nhè:

- Chú Phong à! Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm. Trọn đời, trọn kiếp này cũng không thể nào trả hết được đâu chú ơi!...

Anh hiểu, nhưng cũng chẳng thể làm gì, ngoài việc chỉ biết trân trọng và khắc ghi những tình cảm yêu thương mà Diệu Lê đã dành cho mình mà thôi.

o0o

Cùng với Toàn, Phong cũng đã tìm được cho mình một công việc khác ở dưới Hà Nội. Toàn nhờ người quen giới thiệu, còn Phong thì thông qua một trung tâm giới thiệu việc làm. Họ đã trình bày nguyện vọng này với giám đốc và dự định tuần sau sẽ nghỉ làm ở đây.

Phong không muốn nói cho Diệu Lê biết là mình sẽ ra đi. Không nói thì cuộc sống này cũng đã có quá nhiều bộn bề lo toan rồi, anh không muốn vì thế mà khiến cô phải suy nghĩ và buồn lòng thêm nữa.

Thế nhưng chẳng hiểu Diệu Lê dò hỏi ở đâu mà lại biết được tin ấy. Hôm ấy, cô đã tức tưởi chạy sang phòng anh, vừa thở vừa nói mà không cho anh kịp phân bua gì cả:

- Tại sao việc hệ trọng như vậy mà anh cũng không cho em biết?

- Việc gì?

- Anh đừng giả vờ nữa. Chuyện anh nghỉ làm ở đây ấy. Vậy là anh sẽ ra đi phải không?

Anh im lặng, quay nhìn sang chỗ khác, cố tránh ánh mắt cật vấn của cô.

- Anh nói đi chứ. Sao anh lại im lặng như thế?

- Chuyện là thế này, Diệu Lê ạ! – Mãi anh mới cất được lời, giọng yếu ớt – Tôi đã liên hệ được một công việc khác…

- Vậy là anh sẽ bỏ lại tất cả, kể cả em hay sao? – Nàng sốt ruột ngắt lời, không để cho anh kịp nói hết.

Anh im lặng, lắc đầu. Vẻ mặt đầy cay đắng, nàng nói:

- Tại sao anh không đến với em? Em một lòng yêu anh kia mà? Hay là anh chê em. Anh thấy em không quan trọng bằng cái công việc sắp tới của anh? – Đến đây thì mắt nàng đã đỏ hoe, ngấn lệ.

Phong cảm thấy đau nhói trong lồng ngực. Bất lực nhìn người con gái mà anh yêu thương đang đau khổ mà không thể làm gì được, dù chỉ là một lời an ủi nhỏ nhoi. Anh đã phải ra đi như một kẻ trốn chạy. Trốn chạy cái hiện thực khó khăn không lối thoát và trốn chạy cả hạnh phúc, tình yêu.

- Không! Em đừng nói vậy. Em là một người con gái tuyệt vời…chính tôi cũng đã có ý định chọn em để gắn bó…nhưng…

- Thôi! Anh đừng biện minh nữa. Nếu anh đã quyết định như thế thì dù có nói gì đi nữa cũng sẽ vô ích mà thôi!...

Rồi nàng oà khóc và bưng mặt chạy nhanh ra khỏi phòng.

Đúng lúc ấy thì Toàn bổng từ đâu bước vào.

- Có chuyện gì vậy? – Toàn hỏi và ngơ ngác nhìn theo cái bóng Diệu Lê vừa ôm mặt vừa bước đi như chạy.

Phong chống tay, ngồi phịch xuống ghế.

- Là cái chuyện ấy đấy…

- Nhưng là chuyện gì cơ chứ?

- Chuyện chúng mình nghỉ làm ấy.

- À, hiểu rồi! – Toàn thở dài, nói.

Rồi cậu ngồi xuống ghế, gõ gõ ngón tay xuống mặt bàn, đăm chiêu:

- Em cũng vừa mới chia tay với nàng xong!

- Vậy ư? Rồi Hương nói sao? – Phong nhìn sang Toàn, tò mò hỏi.

- Còn sao nữa. Khóc lóc, vật mình vật mẩy chứ sao…

Phong nhíu mày, đau khổ. Anh nắm chặt bàn tay, rồi đấm nhẹ xuống mặt bàn, thở hắt ra:

- Cũng vì hoàn cảnh mà đành vậy. Nào ai có muốn phải xa rời người mà mình yêu thương kia chứ. Ông tơ bà nguyệt thực là khéo trêu ngươi mà!...

o0o

Phong ngoái lại, nhìn đăm đăm về phía cái phòng trực quen thuộc. Cách đó một đoạn, Toàn đã nổ xe máy đợi sẵn.

Bằng một thái độ kiên nhẫn hiếm thấy, Phong cố ý trùng trình, rồi anh lại sốt sắng ngó nghiêng như thể một người đang để ý kiếm tìm một vật gì đó bị đánh rơi.

Có tiếng của Toàn vang lên, thúc dục:

- Đi thôi anh! Cách chia nào mà dạ chẳng bùi ngùi. Nếu cứ lần lữa, nhỡ cô ấy bắt gặp, anh lại quyến luyến mà không đi được nữa bây giờ!...

- Đợi mình một chút thôi!...Chút nữa thôi!...

Phong lắp bắp những câu chẳng ra đầu ra đũa trong cổ họng, trong khi mắt vẫn không rời khỏi cánh cổng sắt cao lớn của cơ quan. Kỳ thực là anh đang mong đến cháy lòng được nhìn thấy cái bóng hình thân yêu ấy, dù chỉ là một khắc, một giây thôi cũng được. Các cô gái khoác tay nhau lần lượt đi vào nhà xưởng. Người ra, kẻ vào tấp nập, thế nhưng vẫn không thấy bóng dáng Diệu Lê đâu. Phong cố căng mắt nhìn, cho đến khi ánh mắt đã nhoè đi vì thất vọng, anh nén tiếng thở dài và buồn bã ngồi lên xe, nổ máy. Vậy là anh đã quyết định ra đi, để lại sau lưng một giấc mộng tình yêu tan vỡ, một bóng hình diệu vợi mà thời gian đã vô tình cản ngăn, không bao giờ níu kéo được nữa.

Hai chiếc xe máy cùng chạy song song trên đường. Hai người đàn ông ngồi sau tay lái chỉ lặng im mà không nói gì. Trên khuôn mặt mỗi người đều đượm những nét ưu tư, và những nổi niềm của họ cũng nhiều đến nỗi chẳng thể nào kể xiết, nhiều như những vòng tròn vô tận của bánh xe quay.

Chủ Nhật, 22 tháng 6, 2025

Đồi Phục Sinh

 

Nhà thờ xứ Bảo Long được xây dựng và toạ lạc trên một ngọn đồi bằng đất hình mai rùa thoai thoải. Ở lưng chừng đồi, giáo đường cao lớn uy nguy, đỉnh chóp lại vươn thẳng lên trời xanh, nom tựa như một cái cột trụ chống trời. Từ đây nhìn ra bốn phía, thấy cơ man nào là những núi non trùng điệp, bủa vây, như luỹ như thành. Khoảng giữa là một vùng đồng bằng màu mỡ, với những thửa ruộng vuông vức xen kẽ, chỗ xanh chỗ vàng, sống động như một bức gấm thêu. Phía dưới chân đồi, xóm đạo sống quy tụ, màu mái ngói đỏ tươi, xen lẫn với những toà nhà cao tầng nhấp nhô. Nhà thờ án ngữ trên cao, giáo dân ở dưới thấp, nương tựa và chở che. Cái thế phòng thủ bền vững ấy, dễ khiến cho người ta hình dung đến cảnh tượng những pháo đài sừng sững của các lãnh chúa âu châu thời kỳ trung cổ.

Cha quản xứ Vinh Sơn là một người trẻ, năm nay ngài còn chưa đến bốn mươi tuổi. Nếu là tiếp xúc lần đầu, có thể người ta sẽ dễ nhầm tưởng ngài với một tài tử điện ảnh nào đó của Hồng Kông trong những thập niên 1990 hơn là một linh mục vậy. Ngài lịch lãm, nói năng nhỏ nhẹ và rất dễ hoà đồng. Trung tuần tháng ba năm 2013, vâng lệnh bề trên, ngài đã về trị nhậm nơi đây. Từ bấy đến nay, giáo xứ Bảo Long đã thay đổi lớn lao như có một phép màu kỳ diệu. Cha cho sửa sang nhà thờ, xây mới nhà xứ, giúp dân làm đường cho tiện việc đi lại. Khắp xứ Bảo Long ca ngợi ngài, và cũng nhờ những công đức lớn lao ấy, danh thơm của ngài còn được nhắc nhủ và bay xa trong khắp cả một vùng giáo phận rộng lớn quanh đây.

o0o

Nắng sớm bừng lên, dát vàng và lan toả trên khắp xóm đạo. Một ngày như mọi ngày, trong trẻo và bình yên. Từ trên cao, bóng tháp chuông nhà thờ đổ dài và hằn lên lối đi một vệt màu loang lổ giữa cái nền gạch xi măng màu trắng xám. Bên trong hành lang nhà dòng, bóng áo trắng của các nữ tu thoắt ẩn thoắt hiện, nhẹ nhàng như một ảo ảnh thoáng qua. Có tiếng đàn hát từ một căn phòng ở tầng hai vọng xuống, đó là ban nhạc nhà thờ đang tập trung tập luyện để chuẩn bị cho buổi đại lễ phục sinh sắp tới. Cây cối trong sân nhà thờ, sau một đêm dài hút đẫm hơi sương, giờ đây cũng đã bắt đầu xoã lá, vươn cành và bung ra những sắc hoa trong ngày mới.

Dọc theo bức tường xây cao vút, có một người đàn ông đang chậm rãi đi về phía sân nhà thờ. Người ấy cao lớn, tuổi trạc tứ tuần, vừa bước đi vừa mải mê ngắm nhìn như vãn cảnh. Nom phong thái tự nhiên như vậy, có vẻ như khách không phải là người mới đến đây lần đầu. Đúng thế, vị khách đó chính là Hoàng, vốn là một nhà văn trẻ và cũng là chỗ quen biết với cha Vinh Sơn. Đến cuối bức tường, khách dừng lại một lúc như thể quan sát hình thế, rồi đi vòng qua bức tượng thánh anton – Vị thánh hay làm phép lạ - để bước lên sảnh của ngôi nhà mát. Thường ngày, cha Vinh Sơn vẫn hay ngồi tiếp khách và hóng mát ở đây. Trên sảnh, người ta kê một bộ bàn ghế làm bằng gỗ lũa được một người sùng đạo cung hiến. Cạnh đó, còn có mấy bộ bàn ghế mây kê xen kẽ và một quày lễ tân phục vụ. Ngôi nhà được dựng trên những cây cột tròn, bên trên lợp mái, bốn phía bỏ trống để có thể đón gió trời. Nhìn từ xa, nhà Mát trông giống như một mái đình Việt cổ kính vậy.

Người phục vụ ngồi phía sau quày, vừa nhìn thấy Hoàng thì đứng lên:

- Chú đến chơi!

- Chào anh! Cha có nhà không?

- Cha đang nghỉ trong phòng. Để con vào gọi.

- Phiền anh!

Chừng vài phút sau, từ phía hành lang nhà xứ, cha Vinh Sơn nhanh nhẹn bước ra. Khác với thường lệ, bữa nay ngài bận một chiếc áo lụa cổ tròn màu mỡ gà vừa vặn, nom khá trẻ trung và lịch lãm.

- Mừng anh Hoàng đến thăm!

- Chào cha

- Mời anh ngồi!

- Cảm ơn cha!

Trong lúc ngồi xuống ghế, cha vui mừng nói:

- Thông báo với anh. Cha vừa mới từ bên Pháp và Thuỵ Sĩ về hôm qua.

- Vậy ư cha? May mà tôi đến chơi đúng lúc. Nhỡ cha chưa về thì…

- Không sao! Cha chưa về thì mọi người ở đây vẫn đón tiếp anh chu đáo chứ sao?

Cha Vinh Sơn cười, Hoàng cũng vui vẻ cười theo.

- Bây giờ thì anh dùng gì nào? – Linh mục hỏi, giọng thân tình.

- Cha cứ cho cà phê như thường lệ là được!

Người phục vụ mang đến hai ly cà phê và còn cẩn thận đặt thêm một lọ đường trắng xuống bên cạnh.

- Chắc là cha đi có việc trọng? – Hoàng khuấy thìa trong ly cà phê, hỏi.

- Bên đó họ tài trợ cho mình một khoản tiền để xây nhà thờ và công trình dân sinh cho mấy giáo họ trong vùng.

- Cha đúng là một vị chủ chăn tận tuỵ, hết lòng vì đàn chiên thân yêu!

- Anh quá khen!

Linh mục nhấp một ngụm cà phê, rồi ngước lên, nói với người phục vụ:

- Anh vào phòng, lấy hộp bánh và dây cà vạt ra đây để cha tặng khách.

Lát sau, người phục vụ trở ra:

- Thưa cha! Đây ạ!

- Quà cha mua từ Pháp. Xin tặng anh! – Cha nói và đón gói quà từ tay người phục vụ trao cho Hoàng.

- Cảm ơn cha! Cha chu đáo quá! – Hoàng nói, mắt hấp háy cảm động.

Hoàng là người ngoại đạo, nhưng giữa họ, một nhà văn và một linh mục lại chuyện trò với nhau theo một cách tâm đầu ý hợp mà chẳng hề có vẻ gì là ngăn cách cả. Trong các cuộc luận bàn của họ, chủ đề ưa thích thường là lịch sử, thần học và các vấn đề xã hội. Cha Vinh Sơn ủng hộ tự do tôn giáo, nhưng lại rất căm ghét chủ nghĩa vô thần. Cha nói rằng, bọn vô thần là một lũ man rợ, tăm tối và thiếu giác ngộ. Rằng, chủ nghĩa vô thần chính là mảnh đất màu mỡ để cho những tư tưởng bạo lực, tàn ác nảy mầm và sinh sôi nẩy nở. Hai chữ “Vô thần” khiến cha dị ứng đến nỗi, trong lúc trò chuyện, nếu có ai đó mà lỡ nhắc đến từ này là cha lại giật nảy mình trên ghế, mặt đỏ lên giận dữ, cặp mắt thất thần như đang nhìn thấy hung thần quỷ dữ hiện hình trước mắt vậy. Với Hoàng, cha Vinh Sơn luôn quý mến và đối xử với anh bằng một tấm lòng biệt nhỡn liên tài. Bởi vậy mà mỗi lần gặp mặt, cả hai người họ đều giữ thái độ “Tương kính như tân” mà chẳng hề có chút nào sơ suất.

Trong lúc nhâm nhi cà phê, Hoàng chăm chú quan sát những cây đèn lồng màu đỏ treo dọc hai bên cây cầu Kiều nối liền trường dòng với nhà xứ. Lần nào đến chơi, anh cũng đều thích thú ngắm nhìn cảnh trí nơi đây. Dường như ở đây cái gì cũng đẹp, từ việc sắp xếp cho đến cách bài trí. Vốn là người có khiếu thẩm mĩ tinh tế, cha Vinh Sơn luôn muốn làm cho mọi thứ trở nên thật đẹp đẽ và hoàn hảo nhất có thể.

      - Anh có đoán được cây Nhãn này đã bao nhiêu tuổi rồi không? – Giọng nói của linh mục kéo Hoàng trở về với thực tại. Theo hướng tay cha, anh nhìn về phía cây nhãn cổ thụ trước sân nhà thờ.

Hoàng chống cằm, nheo mắt như thể ước lượng:

- Có lẽ…cũng đã mấy chục năm rồi. Thưa cha!

Linh mục trầm ngâm:  

- Cây này đã đứng ở đây hơn một thế kỷ rồi đấy. Gần bằng với tuổi của giáo xứ này. Nó đã chứng kiến biết bao thăng trầm của nhà thờ - Cha im lặng vài giây, rồi với một giọng dí dỏm, cha nói - Nếu là người, có lẽ nó đã thuộc lòng hết cuốn kinh cựu ước từ lâu rồi cũng nên!

-  Hơn một thế kỷ ư? Thưa cha!?

- Đúng thế đấy!...Nhưng bây giờ nó bị bệnh, cha đang cho người chữa. Từ năm ngoái, cây xuất hiện nhiều đốm mốc, cành lá ủ rủ. Thời gian này đã bắt đầu xanh tốt trở lại rồi… Là bệnh gì ấy nhỉ?...

- Bệnh khô cành cha ạ! – Anh phục vụ đứng bên vội nhắc.

- Đúng rồi! Bệnh khô cành – Cha cười, quay nhìn Hoàng – Anh thấy đấy, cây cối cũng bị bệnh như người. Cần phải chữa trị và chăm sóc thì mới khoẻ mạnh được!...

- Vâng, thưa cha! – Hoàng đáp, bao giờ anh cũng thán phục cái lối nói chuyện đầy thông minh và triết lý ấy của cha.

 Từ phía cổng nhà thờ, có mấy người tay xách nách mang đang dắt díu nhau đi vào. Vì đi từ dưới dốc lên, có cảm tưởng như bóng dáng của họ cứ lớn lên, rõ dần trong tầm mắt. Đến trước sảnh nhà mát thì họ dừng lại, đồng thanh cất tiếng chào. Một anh quần xắn móng lợn, trên tay xách cái xô nhôm đựng đầy những cá tươi bước lên phía trước. Nhìn kỹ, thấy bên trong có gần cả chục con cá chép lẫn cá mè to cỡ bàn tay đang quẫy đuôi đành đạch.

Anh ta khoanh tay, nét mặt tươi tỉnh:

- Thưa cha! Bữa nay tát ao nhà chung. Công việc hoàn thành, chúng con mang cá đến để biếu nhà bếp ạ.

- Được nhiều cá không? Mọi người đều được chia cả chứ?

- Dạ nhiều! Ai cũng có phần cả.

 Cha nhìn Hoàng, vui vẻ:

 - Cá này bắt được từ ao nhà thờ đó!

Rồi cha giải thích rằng, trong khuôn viên nhà thờ có một cái ao lớn, gọi là ao nhà chung. Mỗi lần tát ao, nhà nào cũng được chia phần cả. Bây giờ họ mang phần cá đến cho cha.

Anh thanh niên nói xong thì lui xuống, một cụ bà đội nón lá bước lên.

- Còn bà thì mang gì đến cho tôi nào? – Cha tươi cười, hỏi.

- Thưa cha. Bí vườn nhà con đã lớn. Con bảo người nhà cắt mấy quả ngon để mang biếu cha ạ! – Cụ bà lởi xởi.

Nói rồi cụ nhanh tay sắp bí ra sảnh. Những quả bí xanh căng tròn, to và trông nần nẫn như những chú lợn con.

- Cảm ơn bà!... Còn anh nữa! – Cha nói và chỉ vào người đàn ông trung niên đang đứng chờ đến lượt mình.

- Dạ! Chúng con mang biếu cha ít xoài và chuối nhà. Trái cây vừa chín tới đó ạ! – Anh ta kính cẩn nói.

- Chúa sẽ trả công anh bội hậu.

- Dạ!

Người đàn ông khệ nệ bê sọt trái cây để lên sảnh.

Cha khoe với khách:

- Anh thấy đó. Toàn cây nhà lá vườn cả đấy!

- Xứ ta đây thật là trù phú và thuần hậu! – Hoàng thành thực đáp.

Linh mục gọi mấy người nhà bếp mang cất những thứ vừa mới được biếu vào, rồi nói:

- Được rồi. Giờ thì mọi người đã có thể về. Nông trang cũng là việc trọng. Cha đang có khách nhé!

Mấy người kia lại kính cẩn chào cha rồi cùng bảo nhau lui ra.

Giáo dân đã bắt đầu mở cửa nhà thờ để vào cầu nguyện. Các cô gái mới lớn trong tà áo dài thướt tha, thong thả khoác tay mẹ bước vào bên trong giáo đường.

- Mấy giờ mà mọi người đã đi nhà thờ nhỉ? – Hoàng nói và bất giác nhìn đồng hồ.

- Đó là những con chiên sùng đạo. Họ đến nhà thờ đọc kinh một lúc rồi mới về làm công việc buổi sáng – Linh mục giải thích.

Từ phía nhà thờ, tiếng đọc kinh bắt đầu vang lên, râm ran như hát. Những âm thanh đều đều, lan toả quanh những bức tường, những khóm cây, kẽ lá trong khuôn viên nhà thờ.

     - Giờ thì cứ để họ bình an trong chúa. Chúng ta đi lên đồi phục sinh thôi – Linh mục đứng lên, nói.

o0o

     Đồi phục sinh nằm ở một địa thế cao nhất, nơi trước đây vốn là đỉnh của ngọn đồi lớn. Tại đây, người ta xây dựng các công trình để mô phỏng hành trình khổ nạn của chúa Giê su trên ngọn đồi Golgotha. Ngày thường, cha Vinh Sơn vẫn thích đi dạo ở đây, khi thì cùng khách, lúc một mình. Theo như lời cha nói, không gian nơi này khiến cha thư thái, cảm giác như tâm hồn đang được gột rửa và thanh tẩy một cách nhẹ nhàng.

      Chủ và khách cùng sánh bước, cha Vinh Sơn đi trước, Hoàng theo ngay phía sau. Trên đường đi, linh mục dừng chân trước một tiệm thuốc tây.

     - Công việc của chị Hường vẫn tốt chứ? – Cha hỏi thăm một người phụ nữ mặc áo blouse đang đứng bẽn lẽn trước quày.

     - Thưa cha! Vâng ạ. Như lời cha dạy, chúng con đang khởi động chương trình phòng bệnh dịch mùa hè cho giáo xứ ạ.

     Hường là một y tá trẻ, cô tốt nghiệp trường y và mới về phục vụ giáo xứ được một năm nay.

     - Tốt lắm! Cố gắng lên. Cần gì thì cứ nói với cha!

    - Dạ! Cảm ơn cha!

    - Không có gì!

    - Mời cha và anh vào nhà chơi đã ạ! – Hường ẩy nhẹ cánh cửa, nói.

    - Thôi, bây giờ chúng tôi còn phải đi đây!

   - Chào cô! – Hoàng cũng gật đầu, nói.

  - Anh và cha đi!

  Hai người lại tiếp tục hành trình.

  - Ở đây, trường dòng có tổ chức dạy bổ túc cho học sinh trong dịp hè. Như vậy sẽ giúp các cháu không bị hổng và thiếu hụt kiến thức. Việc phòng bệnh, chữa bệnh cũng vậy, đều có phòng khám riêng – Linh mục vừa đi vừa nói.

  - Vâng! Thưa cha!

Đã đến chân đồi phục sinh. Họ bắt đầu leo lên những bậc đá quanh co, khúc khuỷ. Hai bên lối đi, cây cối rậm rì và được trồng xen lẫn rất nhiều kỳ hoa dị thảo.

Đến lưng chừng đồi, cha Vinh Sơn chỉ vào vào mấy bức tượng thấp thoáng sau những lùm cây, nói:

- Hoạt cảnh này kể lại hành trình khổ nạn của chúa.

Leo thêm mấy bậc đá nữa thì nhìn thấy một hòn non bộ lớn. Cạnh đó, tượng Chúa Ki-Tô sừng sững, được làm bằng đá nguyên khối và đặt ở vị trí cao nhất. Tượng cao chừng ba mét, được điêu khắc công phu, hai cánh tay dang rộng ra hai bên.

Bên đường, có một ngôi mộ đôi nằm im lìm, phía sau là những cây bách cao lớn như những hàng binh đang đứng canh. Ngôi mộ lớn hơn trên bia có dòng chữ: Alphongsô Phạm Đức Tài: 1823 - 1895”. Ngôi mộ nhỏ đề: “Antôn Nguyễn Hữu Nam: 1871 - 1951”.

Cha Vinh Sơn dừng lại trước mộ, đứng lặng vài giây như để cầu nguyện, rồi làm dấu thánh. Lần nào đi qua đây cha cũng làm như vậy. Sự lặp lại đó khiến Hoàng cảm thấy thắc mắc, nhưng vì ý tứ nên anh vẫn chưa tiện hỏi. Anh dự rằng, đợi có dịp nào đó thuận tiện, sẽ lại hỏi cha sau.

Phía trước mặt hiện ra một nhà nguyện nhỏ. Có mấy đôi trai gái đang dùng điện thoại di động chụp ảnh cho nhau trước vương cung thánh đường. Nhác thấy linh mục đi tới, họ liền dừng cuộc vui lại, vòng tay chào.

Cha Vinh Sơn tươi cười, vẫy tay đáp lại. Đi thêm được mấy bước, cha nói:

- Ở đây phong cảnh đẹp. Các trai thanh gái lịch thường đến để vui chơi, chụp ảnh.

- Vâng, thưa cha! Đó cũng là thói thường của những người trẻ. Họ luôn yêu thích khám phá những cái đẹp và mới lạ - Hoàng đáp.

- Anh nói phải!

Xa xa có một cái điếm nhỏ hình bát giác, nằm cạnh một cây cầu nhỏ cong cong. Nơi đây là đỉnh đồi, nếu bước qua cây cầu này thì sẽ có một lối đi khác để dẫn xuống phía dưới.

Linh mục chỉ vào cái điếm, nói:

- Ta vào đây ngồi nghỉ đi!

Bên trong điếm có một bộ bàn ghế bằng đá kê ngay chính giữa, mặt bàn hình tròn, nhẵn bóng. Họ bước vào và ngồi xuống, cùng nghỉ ngơi cho gân cốt thư giãn. Ở đây gió lộng, khung cảnh phía dưới thu cả vào trong tầm mắt.

Quanh điếm, có rất nhiều cây nguyệt quế xanh tốt đang trổ hoa. Từ giữa những cánh hoa trắng tinh khiết, phô ra nhuỵ hoa màu vàng đài các, rung rinh. Sương sớm hãy còn đọng trên cây, từ sau những kẽ lá, hương hoa toả ra dìu dịu.

Hoàng phóng tầm mắt ra xa. Thấy cỏ cây hoa lá đan xen, những cây cầu nhỏ bắc qua, những lầu, những tượng thấp thoáng. Ở đây thanh khí lâng lâng, vấn vít lòng người như tiên cảnh. Có cảm giác như đang thoát tục vậy.

Cảnh trí tuy xinh đẹp, nhưng không vì thế mà khiến Hoàng quên đi những sự nắc nỏm vẫn còn vướng vít trong lòng bấy lâu nay. Anh ngồi im một lúc, rồi ngần ngừ:

- Thưa cha! Từ lâu, tôi đã có một thắc mắc này…ngày hôm nay mong được cha giải đáp dùm cho!...

- Anh cứ nói! – Linh mục xoa xoa đầu gối, nói.

- Chuyện là… Tôi muốn cha cho biết về nguồn gốc ngôi mộ đôi trên ngọn đồi phục sinh này… và vì sao mà mỗi lần đi qua đây cha đều dừng lại để cầu nguyện?...

Linh mục nghe xong thì nhíu mày, nét mặt lộ vẻ ưu tư. Lát sau, ông cúi đầu, giọng như chùng hẳn xuống:

- À, ừm! Đó là một sự kiện không thể nào quên trong lịch sử giáo xứ…

- Một sự kiện buồn ư, thưa cha?

- Đúng vậy! Mọi chuyện cũng bắt đầu từ cái phong trào tàn khốc gọi là “Văn Thân” ấy – Anh biết chứ?

- Vâng! Đó là một phong trào chính trị của các nho sĩ ở cuối thế kỷ 19.

- Ấy đấy! Anh có biết khẩu hiệu của họ là gì không?...Là “Bình Tây, sát Tả” kia đấy – Cha đưa hai tay ôm đầu và nói mấy từ ấy với một vẻ đau khổ tột cùng – Một khẩu hiệu đầy tính hận thù và giết chóc. Cái bọn vô thần ấy là một lũ dã man, khát máu. Ở chúng, chẳng hề có sự thương xót và thương yêu con người nào cả.

Những hồi ức quá khứ đã khiến cho linh mục bị kích động mạnh. Để làm dịu đi cái không khí căng thẳng, Hoàng ngồi thẳng người lên, nói:

- Cái phong trào ấy rõ là cực đoan. Nhưng có thể cũng là sự va đập nhiều khi khó tránh khỏi giữa các nền văn hoá và ý thức hệ. Với họ, đạo Khổng đã ăn sâu bám rễ trong tâm thức hàng ngàn năm. Bởi vậy mà họ đã có những phản ứng tiêu cực để bảo vệ cái thế giới quan của họ, những gì mà họ cho là đúng, là chính thống.

- Ôi! Anh không biết những tội ác, những việc xấu xa mà họ đã gây ra cho giáo xứ Bảo Long này đâu! – Linh mục vẫn ôm đầu, tỏ ra vô cùng đau khổ.

- Tôi thật có lỗi, vì đã khiến cha phiền lòng! – Hoàng nói, vì chính anh là người đã khơi mào câu chuyện.

- Không sao! – Linh mục xua tay, nói.

- Nhưng cha vẫn chưa giải đáp những thắc mắc của tôi!? – Hoàng khẽ khàng nhắc.

- Thôi được. Nếu anh đã thực sự muốn nghe thì cha sẽ kể! – Linh mục thở hắt ra, nói.

Rồi với một chất giọng đều đều và chậm rãi, ngài bắt đầu kể.

“Đó là một biến cố đau thương đối với lịch sử giáo xứ Bảo Long này.

Năm 1883, với khí thế hận thù và khát máu, những kẻ đi theo phong trào “Văn Thân” đã bất ngờ ồ ạt tấn công giáo xứ Bảo Long. Những tên lính sát khí đằng đằng, với vũ khí trong tay đã sộc vào từng nhà, lôi tất cả người già, người trẻ ra để tra tấn và giết hại. Sau khi đã cướp phá tất cả những gì có thể, chúng lập tức phóng hoả đốt nhà. Cả giáo xứ chìm trong biển lửa, tiếng la hét, tiếng trẻ con kêu khóc như ri. Tai hoạ từ trên trời giáng xuống, chẳng ai biết, ai hay mà phòng. Trong thời khắc hiểm nguy ấy, linh mục Nguyễn Hữu Tài chỉ còn kịp hô hào cho giáo dân rút lui để lánh nạn.

- Mọi người hãy rút hết cả lên đồi! Nhanh lên! – Ngài hét lên trong tiếng súng nổ rền và những tiếng hò reo xung trận của quân địch.

- Cả cha cũng đi nữa! Cha không được ở đây, nguy hiểm lắm! – Mấy giáo dân níu lấy áo cha, khóc.

- Cứ để mặc cha! Bà con hãy chạy trước đi  – Linh mục mím chặt môi, nói.

Quân địch đã vượt qua nhà xứ, những bóng đen thấp thoáng mỗi lúc một gần. Họ xô đổ cánh cổng lớn rồi hò nhau tiến lên, lớp sau dồn lớp trước, đông nghịt như kiến cỏ.

- Cha phải đi thôi, may ra còn kịp! – Mấy người trong đội tự vệ giáo xứ hốt hoảng kêu lên. Rồi mặc cho linh mục vẫn ngần ngừ, họ xốc lấy tay ngài, vừa đi vừa chạy, nhanh chóng hộ tống ngài lên đồi.

 Khi lên đến nơi, linh mục nhìn thấy tất cả giáo dân đều đã tập trung quanh nhà thờ. Họ sắp bàn ghế và chướng ngại vật ra sảnh để làm chiến luỹ, họ dùng tất cả những gì có thể để làm vũ khí bảo vệ chốn linh thiêng. Lúc này, nhà thờ đã trở thành một pháo đài kiên cố, và ngọn đồi um tùm chính là thành luỹ tự nhiên để bảo vệ con người trước sức tấn công của kẻ địch.

Bên dưới, những kẻ tấn công đã ùn ùn kéo đến bao vây ngọn đồi. Họ gào thét và đe doạ rằng, nếu giáo dân không chịu đầu hàng thì khi chiếm được nhà thờ, họ sẽ giết hết, phá hết.

Quân địch quá đông, lại hung hăng và được trang bị vũ khí đầy đủ. Giáo dân thì lại không có một tấc sắt nào trong tay. Sự thể đã quá cấp bách. Trong khi đồn binh đóng gần nhất cũng cách đến ba mươi cây số, lại không có cách nào thoát ra được để báo tin. Vả lại, nước xa không thể cứu lửa gần. Lòng thương xót giáo dân khiến cho linh mục cứ như ngồi trên đống lửa. Ông chắp tay ra sau lưng, cứ đi đi lại lại trong phòng mà không thể nghĩ ra cách nào khả dĩ. Tình hình thực vô kế khả thi.

Một lúc, thấy trên đồi không có động tĩnh gì, những kẻ bao vây lại la hét đòi gặp linh mục để nói chuyện. Vậy là giáo dân lại hốt hoảng chạy đi tìm linh mục. Sau cùng, họ nhìn thấy cha đang quỳ trước ban thờ chúa, lặng lẽ chắp tay cầu nguyện.

Một người hấp tấp chạy vào, cấp báo:

- Cha ơi! Bên ngoài quân địch đã mấy lần hò reo xông lên. Tình hình nguy cấp lắm rồi. Chúng đang đòi gặp cha để nói chuyện…

Linh mục nhìn lên tượng chúa, lầm rầm:

- Xin chúa hãy đoái thương và chở che cho con cái ngài vượt qua cơn kiếp nạn này!...

Dứt lời, cha vụt đứng lên, nói:

- Hãy để cha xuống đó gặp bọn chúng!

- Không được đâu cha ơi! Chúng sẽ giết cha mất! – Giáo dân lo lắng nói.

Nhưng ý linh mục đã quyết. Ngài theo đám người đi ra trước sảnh nhà thờ và chống tay, nhìn xuống chân đồi. Dưới kia, cảnh tượng giáo xứ thật tiêu điều, tang thương. Những bức tường bị đạn bắn lỗ chỗ, khói đen từ những đám cháy vẫn không ngừng bốc lên khét lẹt. Ngói rơi, dậu đổ, từ trong nhà ra ngoài bãi, chẳng có một chỗ nào là còn yên lành, nguyên vẹn.

Trong không khí u ám của sự tàn phá và giết chóc ấy, linh mục đã một mình đi xuống chân đồi, đầu ngẩng cao hiên ngang. Phía sau ông là những lời cầu nguyện của giáo dân, trước mặt là đám quân lính đằng đằng sát khí như hổ đói rình mồi.

Linh mục bước từng bước một, mắt nhìn mà như không thấy gì, trong đầu ngài lúc này chỉ nghĩ đến đức chúa linh thiêng. Trước khí vũ hiên ngang của ngài, những tên lính ở hàng đầu tuy có vũ khí trong tay nhưng cũng cảm thấy chột dạ. Mắt mở to ngạc nhiên, và chẳng ai bảo ai, họ bất ngờ lùi lại mấy bước.

Linh mục đứng thẳng người, rồi với một vẻ mặt điềm tĩnh như không, ngài nói, giọng vang vang:

- Hỡi những người lính đã tấn công giáo xứ hôm nay! Hãy lắng nghe tôi nói! Những giáo dân trên kia chẳng làm gì nên tội cả. Họ cũng như cha mẹ, vợ con các anh ở nhà. Nếu các anh muốn bắn muốn giết thì hãy nhắm tôi đây. Tôi là linh mục, có tội tình gì thì tôi sẽ chịu thay cho họ. Nhưng các anh phải hứa là hãy tha cho giáo dân và không được tàn phá nhà thờ!

Một gã cao lớn, đầu đội khăn, từ phía sau hàng quân khệnh khạng bước lên. Hắn trợn mắt, mặt đối mặt với cha, rồi hất hàm, hỏi:

- Ta muốn hỏi. Rốt cục là các ngươi có chịu đầu hàng không thì bảo?

Linh mục cũng nhìn thẳng vào mắt hắn và nói, giọng châm biếm:

- Lạ chửa! Chúng tôi có đánh nhau với ai đâu mà phải đầu hàng?

Bị chọc giận, gã kia tức đến đỏ mặt tía tai. Gã nhảy tưng tưng như lên đồng, rồi trong cơn quẫn trí, gã vung thanh mã tấu sáng loáng, gầm lên:

- Thôi! Không cần phải đôi co nữa. Hãy trói nó lại cho ta!

Y lệnh, hai tên lính đứng gần đấy lập tức xông vào, chúng dùng sức đè sấp linh mục xuống đất và dùng một sợi dây thừng buộc trâu để trói nghiến lại.

Linh mục bị bọn lính giải đi và tống giam trong một căn nhà hoang trên đồi bạch đàn. Chỗ này gần một con sông, xa dân cư và cách giáo xứ đến mấy cây số đường chim bay. Họ giam cha ở đây, không cho ăn uống gì cả, mục đích là để cho cha chết đói, chết khát. Ngọn đồi xanh um, cây cối rậm rì, từ dưới nhìn lên chỉ thấy những cành lá vươn ra và đang không ngừng đung đưa trong gió.

o0o

Hằng ngày, bãi cỏ xanh mướt nơi mé sông là nơi mà lũ trẻ trong làng thường lùa trâu bò ra đây để chăn thả. Trong số này, có cậu bé Nam, vốn là con một người đàn bà goá ở trong làng. Sáng nay như thường lệ, sau khi đã lùa trâu vào bãi thả, nó nằm ngửa trên cỏ, ung dung nhìn trời, ngắm mây. Lúc nào nó cũng lủi thủi một mình như vậy, vì lũ bạn chê nó là đứa không có bố, không cho chơi cùng. Cách đấy một đoạn, lũ trẻ chăn trâu đang bứt cỏ để chơi trò chọi gà. Chúng vừa chơi vừa cãi nhau, om sòm, chí choé như họp chợ. Đôi khi, cái không khí sôi động ấy cũng lôi cuốn nó, khiến nó muốn gia nhập cuộc chơi. Nhưng nghĩ đến thái độ kinh khỉnh và miệt thị của lũ bạn mỗi khi nó có mặt, nó lại nằm im và giập tắt ngay cái ý muốn giản dị đó. Nó lấy cái mũ lá, che một bên tai để khỏi phải nghe những âm thanh cãi nhau vọng lại, rồi nhắm mắt và để mặc cho đầu óc tự do theo đuổi những ý nghĩ vu vơ.

Có tiếng chim kêu lích rích ở đâu đó rất gần. Nó mở bừng mắt, ngơ ngác nhìn quanh.  Cách chỗ nó nằm một đoạn, có một con chim chào mào đang đậu trên cây ngô đồng, vừa kêu vừa lúc lắc cái mào như làm xiếc. Chú chim rất đẹp, từ bé đến giờ nó chưa hề thấy bao giờ. Như mèo rình chuột, nó quờ tay lấy cái ná bên hông, rồi nhẹ nhàng nhổm dậy. Nhưng khi nó vừa chuẩn bị bắn thì con chim liền vỗ cánh bay đi. Nó bật dậy như lò xo, vùng đuổi theo, mắt vẫn không rời đôi cánh đen trắng của con chim phía trước. Giống như trêu ngươi, con chim cứ bay được một đoạn thì lại đậu, làm cho nó phải chạy theo đến muốn hụt hơi. Nhưng hễ  nó giơ ná lên thì con chim ranh mãnh lại bay vụt đi. Khi đến chân đồi thì con chim đột nhiên biến mất. Thật kỳ lạ, rõ ràng là vừa thấy nó đậu ở đây kia mà? Nó mở to mắt, tìm khắp những ngọn cây gần đó nhưng vẫn không thấy đâu cả. Con chim đẹp quá, không thể nào để mất dấu được. Thế rồi, tự lúc nào, đôi chân nó cứ lần theo lối mòn để đi lên trên đồi.

Con chim đã hoàn toàn mất dạng, nhưng trước mắt nó lúc này lại hiện ra một cái chòi canh. Không, đúng hơn là một ngôi nhà gạch bỏ hoang nằm chênh vênh trên sườn đồi. “Ai mà lại ở đây thế nhỉ?” – Nó tự nhủ, rồi tò mò tiến lại gần ngôi nhà. Tuy chờn chợn, nhưng rồi lòng ham khám phá đã chiến thắng, nó mạnh dạn bước lên những bậc thềm phủ đầy lá khô. Cánh cửa gỗ khoá im lìm, nhưng có một ô cửa sổ con con vẫn mở. Nó rón rén đến bên cửa sổ, vịn tay vào chấn song rồi hé mắt nhìn vào. Nhưng bên trong tối om, chẳng có đèn đóm gì cả. Một đám mối mọt bất ngờ rơi xuống, vương cả vào mắt, cay  xè. Nó dụi mắt, cố nhòm qua khe cửa một lần nữa. Khi mắt đã bắt đầu quen với bóng tối bên trong, nó nhìn thấy một người đang ngồi dựa lưng vào tường. Dường như là một ông lão thì phải. Ông ấy mặc một bộ đồ màu trắng, ngồi xếp bằng, hai tay đặt trên đùi như đang thiền định. Nó nhìn thấy ông lão động đậy. Vậy là ông ấy vẫn còn sống. Ông lão là ai mà lại ở đây một mình thế nhỉ. Mà cửa thì khoá ngoài, như vậy là ông ấy bị giam, chứ không phải nhà ở đây.

Nó mở to mắt ngạc nhiên, lo sợ vì phát hiện đó của mình. Cảm giác hồi hộp khiến trống ngực nó đập thình thình như trống trận. Nếu là bị giam, hẳn là ông ấy cần phải được giúp đỡ. Nó nghĩ vậy, rồi đánh bạo hỏi:

- Ông ơi! Ông là ai thế? Tại sao ông lại ở đây?

- Ai đấy? – Một giọng nói yếu ớt từ bên trong vọng ra.

- Cháu đây!

- Cháu là ai? – Vẫn là giọng nói ấy, nhưng lần này có vẻ dè dặt và cảnh giác hơn.

- Cháu đi chăn trâu dưới kia…

Một lúc im lặng. Lại là tiếng ông lão, nhưng có lẽ lần này ông đã tin lời nó.

- Người ta giam ông ở đây cháu ạ. Đã ba ngày rồi, không cho ông ăn uống gì cả. Họ muốn cho ông chết!...

- Vì sao họ lại bắt giam ông? – Không cưỡng được tò mò, nó lại hỏi.

- Cháu còn nhỏ. Không hiểu được chuyện này đâu.

Nó cắn chặt môi, bần thần suy nghĩ, dù trí óc non nớt của nó chẳng thể hiểu được gì. Nó chỉ thấy thương và tội nghiệp cho ông lão. Già cả thế này rồi mà còn bị người ta bắt giam, lại còn bị bỏ đói, bỏ khát trong căn nhà hoang này.

- Ông có cần gì không? Cháu sẽ giúp? – Sau cùng nó cũng bày tỏ được ý tốt của mình.

Ông lão thều thào:

- Có ai ở đó không? Nếu họ biết được thì sẽ nguy hiểm cho cháu đó.

Nó lén lút nhìn quanh như đang ăn trộm, rồi nói:

- Không có ai đâu ông ạ. Chỉ mỗi mình cháu thôi. Lũ bạn đang chơi ở tận dưới bờ sông kia. Không ai biết đâu.

- Vậy cháu có thể mang cho ông một ít nước được không? Ông đang khát lắm!

Chẳng có nồi niêu hay cốc chén gì cả, mà lúc này chạy về làng thì xa. Nó bèn nói:

- Nhưng ở đây chẳng có cái gì để đựng ông ạ.

Ông lão chậm rãi cởi cái áo ngoài ra, luồn tay đưa qua khe cửa, nói:

- Cháu mang cái áo này xuống bờ sông giặt sạch. Sau đó thấm đẫm nước vào rồi mang lên đây cho ông.

Nó cầm lấy chiếc áo, ngơ ngác mất vài giây. Nhưng rồi nó cũng hiểu, chiếc áo có thể mang được nước lên đây. Trong tình cảnh khó khăn này, đó cũng là một cách hay. Ông lão hẳn phải là một người rất thông minh, vì nhất thời, đầu óc nó chẳng thể nào nghĩ được như thế. Đã mấy hôm liền không được ăn uống, có lẽ là ông ấy đã đói khát lắm?

Đứa bé cầm theo cái áo ông lão đưa cho, chạy ù một mạch xuống bờ sông. Nó chọn một khúc sông kín đáo, không cho lũ bạn trông thấy, rồi bắt đầu giũ cho thật sạch. Thấy động, lũ cào cào đập cánh bay loạn xạ. Người nó nóng ran, mồ hôi túa ra như tắm. Nó làm một cách vội vàng, nước bắn lên khắp người, khắp mặt, mát lạnh. Giặt xong, nó nhúng cái áo xuống thật sâu, thấm cho ướt nước, rồi lại bắt đầu chạy ngược lên đồi.

- Ông ơi!... Nước đây rồi!...- Nó vịn tay vào song cửa, hổn hển nói.

- Cho ông xin! – Ông lão đón lấy cái áo và ngước ánh mắt ươn ướt nhìn nó.

Vẫn với những cử chỉ chậm rãi, ông lão giơ cái áo lên, rồi ngửa cổ, vắt cho nước chảy vào miệng. Nó nghe thấy ông “Khà” lên một tiếng khoan khoái. “Có lẽ là ông ấy đã khát lắm” - Nó nghĩ thế và cảm thấy vui vui.

Như chợt nhớ ra, nó lại nghĩ: “Ông ấy vẫn còn đói”.

- Chiều nay cháu sẽ mang cơm đến cho ông. Ông nhé! – Nó nói.

- Cảm ơn cháu. Cháu tốt quá! Chúa sẽ phù hộ cho cháu! – Giọng ông lão run run. Có lẽ là ông đã rất cảm động.

Hôm ấy, trong bữa cơm chiều, đứa bé đã kể cho mẹ về chuyện ông lão bị giam trong ngôi nhà hoang trên đồi. Bà mẹ lắng nghe, vừa ngạc nhiên vừa cảm thấy lạ lùng. Linh tính mách bảo cho bà có một điều gì đó uẩn khúc và hệ trọng. Bởi vậy mà khi nghe xong, bà đã nghiêm sắc mặt nhìn con:

- Con này. Hãy nhớ là không được kể chuyện này cho ai biết. Nghe chưa!

- Vâng! - Đứa bé đáp. Nhưng nó cũng cảm thấy kỳ lạ vì cả ông lão và mẹ nó đều dặn phải như thế.

     Bà mẹ ngồi thừ ra mất một lúc vì những bối rối trong lòng. Có một sinh mệnh đang cần được cứu giúp, và cái sứ mệnh thiêng liêng ấy giờ đây đang được thượng đế đặt vào trong tay bà. Lòng thương cảm đã khiến cho bà không phải mất nhiều thời gian để đắn đo. Chỉ sau một cái nhíu mày, bà bắt đầu xới cơm và thức ăn cho vào trong tô, rồi để riêng ra một góc trên cái mâm gỗ.

- Lát nữa ăn xong, con mang chỗ cơm này lên cho ông lão nhé! – Bà dặn con bằng một giọng nghiêm nghị.

- Vâng ạ!

Cậu bé Nam rất vui, vì thấy mẹ đã đồng cảm và làm theo ý mình. Thế là trời vừa nhập nhoạng tối, một tay cầm mo cơm, tay kia cầm be nước, nó thung thăng đi lên đồi. Vừa đi nó vừa nhìn trước, ngó sau, cẩn trọng và lẹ làng như một người lính giao liên dạn dày kinh nghiệm.

Khi nhận cơm từ tay đứa bé, ông lão đã rất cảm kích.

- Cháu tên gì? Con cái ai, nhà ở đâu? – Ông hỏi và nhìn nó qua ô cửa nhỏ.

- Cháu tên Nam, con mẹ Lan. Nhà cháu ở cuối xóm. Bố cháu mất từ lâu. Cháu lớn lên cũng chẳng biết mặt bố nữa.

Câu trả lời ngắn gọn, nhưng cũng đủ để giúp ông lão hình dung được phần nào hoàn cảnh của vị ân nhân nhỏ tuổi. Ông không hỏi gì thêm nữa, chỉ im lặng cúi đầu. Nó thấy miệng ông mấp máy, dường như ông đang chúc phúc cho nó thì phải.

Từ đó, ngày nào đi chăn trâu, cậu bé Nam cũng lén mang cơm nước lên đồi cho ông lão. Nhờ vậy mà dù bị giam cầm khắc nghiệt, người tù già vẫn sống khoẻ mạnh và bình an.

o0o

 Tại giáo xứ Bảo Long. Cuộc bao vây nhà thờ của quân Văn Thân đã bước sang ngày thứ bảy. Suốt một tuần lễ liền, giáo dân vẫn kiên cường chống đỡ, nhất quyết không chịu đầu hàng kẻ địch. Quân lính Văn Thân đã nhiều lần hò nhau xông lên, nhưng mỗi lần như thế lại bị gạch đá từ trên cao ném xuống dữ dội, kẻ biêu đầu, người mẻ trán, rốt cục đành phải tức tối thoái lui.

Đêm ấy, nhân lúc tối trời và quân địch lơ là canh phòng, một giáo dân đã thoát được xuống chân đồi và đi xuyên đêm để đến đồn binh đóng gần đó xin cứu viện.

Sau một đêm bàn định, sáng hôm sau, quân Văn Thân bắt đầu chất củi khô và những thứ dễ bắt lửa quanh ngọn đồi. Họ muốn thiêu cháy nhà thờ và toàn bộ giáo dân ở trên đó. Ngọn lửa bùng lên dữ dội, như một con rắn dài cuộn tròn, lan dần, mỗi lúc một gần hơn đến khu vực nhà thờ. Cây cối bắt lửa cháy xèo xèo, khói đen cuộn lên như những chiếc vòi rồng khổng lồ, mịt mù che khuất mọi thứ. Trong cơn tuyệt vọng, giáo dân chỉ còn biết chắp tay cầu nguyện Đức Mẹ Maria cứu vớt.

Kỳ lạ thay! Chừng mấy phút sau, đột nhiên mây đen ở đâu ùn ùn kéo tới, che kín cả ngọn đồi. Vài tiếng sét nổi lên xé toạc không gian, rồi trời bắt đầu chuyển mưa như trút nước. Ngọn lửa hung hãn vừa bò lan đến lưng chừng đồi, còn chưa kịp bén vào nhà thờ thì đã bị trận mưa giông dập tắt ngóm.

Những kẻ bao vây còn chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì vừa lúc đó đạo quân của thừa sai Adolphe Klingler cũng kịp kéo đến để giải vây. Bị đánh bất ngờ, quân Văn Thân tan tác, bỏ chạy tán loạn như một bầy ong vỡ tổ. Giáo xứ đã được giải phóng. Người ta từ trên đồi ào xuống, ôm chầm lấy nhau, mừng mừng tủi tủi. Họ khóc vì vui, vì đã thoát nạn và còn bảo vệ được nhà thờ nguyên vẹn mà không hề bị quân địch tàn phá. Cuộc tấn công của quân Văn Thân đã khiến cho hơn ba mươi giáo dân bị giết. Xác của họ nằm trước sân, vắt vẻo trên hàng rào và cả ngay ở trong nhà. Có người còn chắp tay nguyện cầu đức chúa trước khi bị quân địch sát hại. Cả giáo xứ bị tàn phá tan hoang, quang cảnh cứ như ngày tận thế.

Sau khi đã lục tung cả giáo xứ mà vẫn không tìm thấy linh mục, thầy phó tế liền dẫn theo mấy người nữa trong đội tự vệ đi tìm. Điều khiến họ lo lắng nhất là không biết hiện giờ cha đang bị giam ở đâu, còn sống hay đã chết. Đoàn người toả đi khắp các vùng xung quanh, đến đâu họ cũng hỏi thăm, tìm kiếm. Sau cùng, họ được cậu bé Nam dẫn đến ngôi nhà hoang trên đồi. Khi tìm thấy cha vẫn còn sống khoẻ mạnh ở đây, ai nấy đều bật khóc vì mừng rỡ và cho rằng cha đã được chúa trời phù hộ và chở che.

Mấy bữa sau, trong lúc người đàn bà goá đang quét dọn trong sân thì chợt thấy có mấy người khách lạ tìm đến nhà. Họ ăn vận lịch sự, đi đầu là một ông lão tóc bạc, dáng vóc và thần thái như tiên.

Họ dừng lại trước sân, rồi một người trong đoàn tiến lên, hỏi:

- Chào bà! Xin hỏi, đây có phải là nhà bà Lan không?

- Dạ phải! – Chủ nhà đáp và ngỡ ngàng nhìn những người khách lạ. Bà chưa gặp họ bao giờ, càng không hiểu lý do vì sao lại có chuyến viếng thăm đường đột này.

- Chúng tôi từ giáo xứ Bảo Long đến đây…- Một người khác nói.

Những nếp nhăn trên khuôn mặt khắc khổ của người đàn bà giãn ra. Với những người theo đạo, bao giờ bà cũng dành cho họ một sự kính trọng đặc biệt. Bà dựng vội cây chổi vào tường, rồi lịch sự nói:

- Vâng! Mời các ông vào trong nhà!

Căn nhà tranh đơn sơ, bên trong chỉ kê một chiếc giường cũ kĩ và một bộ chõng tre để ngồi.

Ông lão vịn tay ngồi xuống. Một người khác đặt gói quà lên bàn rồi kính cẩn chắp tay đứng cạnh ông lão.

- Hôm nay chúng tôi đến đây. Trước là thăm bà, sau đó là để tỏ lòng biết ơn đối với bà!…- Ông lão từ tốn mở lời.

Chủ nhà ngừng tay rót nước, đáp:

- Chúng tôi mẹ goá con côi. Nào có giúp đỡ được gì ai mà ông lại nói lời cảm ơn?...

- Có đấy. Ơn của bà lớn lắm! – Ông lão nói.

Rồi ông bắt đầu đem chuyện mình bị giam ở trên đồi, sau đó lại được cháu Nam giúp đỡ và bà cho ăn uống ra sao kể lại một lượt.

Lần này thì bà goá đã hiểu, liền tỏ ra vui mừng:

- Vậy ông đây là?...

Người đứng cạnh ông lão nói:

- Thưa bà! Đây là linh mục Tài. Cha quản xứ Bảo Long của chúng tôi.

- Vậy ư? Thật là vinh hạnh cho tôi!…

- Cháu Nam có ở nhà không bà? Xin cho phép tôi gặp cháu được không? – Ông lão nói và đưa mắt có ý tìm kiếm.

- Dạ, để tôi gọi cháu!

Từ nãy, cậu bé Nam vẫn nấp ở trong buồng nhìn trộm ra. Ngay từ đầu, nó đã nhận ra ngay ông lão. Vẫn là mái tóc bạc, vầng trán đẹp như tiên kia, chỉ có điều, bữa nay ông ấy mặc một bộ đồ màu đen nom rất nghiêm trang. Cả những người đi cùng cũng ăn mặc rất đẹp, toàn những thứ vải mềm và mịn, chứ không phải quần sồi áo nâu như nó. Mãi suy nghĩ, khi nghe tiếng mẹ gọi, nó đã giật nảy mình và chạy ù ra nhà ngoài.

- Cháu chào ông ạ!...- Đứa bé tiến đến bên ông lão, cất tiếng rụt rè.

Ông lão kéo nó ngồi cạnh, âu yếm xoa đầu nó, rồi lựa lời hỏi han. Một lúc sau, ông ngồi thẳng người lên và nói với người đàn bà bằng một giọng xúc động:

- Thưa bà! Tôi đã được cứu sống là nhờ tấm lòng thiện lương của cháu Nam đây. Cháu thực sự là một đứa trẻ tốt và có giáo dục. Tôi nghĩ là chúa đã chọn cháu để phục vụ giáo hội. Vì vậy mà tôi muốn được thưa với bà một chuyện, không biết bà có ưng thuận cho không?

- Vâng, ông cứ nói! – Bà goá đáp, dù bà vẫn chưa hiểu chuyện gì.

- Tôi muốn xin cháu về nuôi và cho cháu đi học!

Bà mẹ ngồi im, nước mắt lưng tròng. Lát sau, bà nói:

- Nếu cháu mà được theo ông để ăn học nên người thì còn gì bằng. Người làm mẹ như tôi đây còn mong gì hơn nữa. Nhưng chúng tôi chỉ có hai mẹ con sống nương tựa vào nhau. Nếu phải xa cháu thì tôi sẽ nhớ nó lắm…

- À!...Hay là thế này – Linh mục khoát tay, nói – Để công bằng, tôi sẽ hỏi ý kiến cháu nhé.

Rồi ông xoa lên cái đầu cháy nắng của đứa bé, nhẹ nhàng hỏi:

- Cháu có đồng ý theo ông không nào? Ông sẽ cho cháu đi học làm linh mục!

Nó ngước cái mũi hỉnh lên, ngây thơ hỏi:

- Linh mục là gì hả ông?

Ông trỏ vào mình, cười:

- À! Ờ…Linh mục là như ông đây này!

Nó thấy ông được mọi người đối xử kính trọng, nói gì cũng được thưa gửi đàng hoàng, nó thích lắm.

Nó nhìn mẹ có ý dò hỏi. Bà mẹ cũng nhìn con, khích lệ:

- Con thích thế nào thì cứ nói với ông!

Được lời, nó dụi đầu vào người ông, bẽn lẽn:

- Vâng!

Năm ấy, khi theo linh mục về, cậu bé Nam vừa tròn mười hai tuổi. Cậu được cha gửi đi học trường dòng, rồi sau đó là đại chủng viện. Khi đã trở thành linh mục, ngài sống một cuộc đời tận hiến, hết lòng phụng sự giáo hội. Ngài yêu thương giáo dân, luôn đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của họ trước những đàn áp, bất công. Khi ngài chết, thể theo nguyện vọng, giáo dân đã chôn ngài cạnh mộ cha Tài trên ngọn đồi phục sinh này. Để ở nơi cao nhất, cả hai ngài đều được đón mây ngàn gió lộng và bốn mùa ngắm nhìn giáo xứ thân yêu”.

Cha Vinh Sơn ngừng kể, mắt nhoà đi vì ngấn lệ.

- Ôi! Câu chuyện thật xúc động! – Hoàng nói và ngước nhìn lên cao. Bầu trời lúc này, những đám mây với đủ hình thù đang lững lờ trôi, đôi chỗ vì phản chiếu ánh nắng mặt trời mà trở nên lấp lánh ngũ sắc, tựa như một cảnh tượng nơi thiên đường.

o0o

Trên đường trở về, lúc đi ngang qua ngôi mộ đôi, cả hai người cùng dừng bước. Lần này không chỉ linh mục, mà cả vị khách cũng đứng lặng im, cúi đầu.

Cha Vinh Sơn nhìn đăm đăm vào những dòng chữ ghi trên hai tấm bia, giọng âm thầm:

- Cha tin vào sự phục sinh. Đó là lời mạc khải của thiên chúa trong sứ vụ cứu rỗi loài người. Chúa đã phục sinh, cả cha Tài, cha Nam cũng sẽ phục sinh. Giống như các thánh tử đạo, các cha đã phải chịu khổ nạn để nước chúa tôi được vinh hiển đời đời.

Nhà văn chắp tay, bộc bạch:

- Những xung đột giữa các nền văn hoá không thể giải quyết bằng bạo lực, càng không phải bằng sự kỳ thị hay phân biệt ý thức hệ, mà phải từ sự thấu hiểu và cảm thông sâu sắc. Với lòng nhân ái và yêu thương, nhân loại sẽ đến được bến bờ hạnh phúc. Thưa cha!

  - A men! – Cha Vinh Sơn niệm và đưa tay làm dấu phép.

Đoạn đường còn lại, cả hai người bước đi trong im lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng, nhưng nhìn vẻ mặt xúc động của họ thì dường như những xúc cảm về câu chuyện ban nãy vẫn còn chưa hề nguôi ngoai trong tâm trí.

Những người đi lễ sáng cũng đã bắt đầu lục tục ra về. Từ phía cửa chính nhà thờ, họ bước xuống những bậc tam cấp và toả đi các hướng của sườn dốc thoai thoải để rồi ai về nhà nấy. Trong làn nắng sớm, những tà áo dài của các thiếu nữ thấp thoáng và bừng lên như một vườn hoa đang khoe sắc. 

Về đến sảnh nhà mát, Hoàng dừng lại.

- Chào cha! Hẹn gặp lại cha!

- Bình an cho anh! – Linh mục nói và cứ thế, ông nhìn theo người khách cho đến khi cái bóng dáng quen thuộc ấy khuất dần, xa dần phía sau cánh cổng sắt cao lớn của nhà thờ.