Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

Nồi Bánh Chưng xanh


Mặt trời mùa đông như con mắt của người ngái ngủ, chỉ lim dim chứ không mở hẳn bao giờ, rồi lại bị những đám mây màu xám bạc che khuất triền miên. Làn gió thổi nhẹ, làm rung rinh những nụ hồng và thược dược, lang thang quét qua mấy luống rau màu xanh thẫm trong khu vườn. Ngoài đường, mọi người đang tất bật đi lại sắm tết hay vì một công việc xã giao nào đó. Tuy tiết trời khô hanh, nhưng cái rét ngọt như cắt thịt da, khiến cho người ta phải diện nguyên cả bộ đồ ấm dày cộp, trong khi vẫn bận bịu với bao nhiêu là công việc cuối năm.

 

 Trong sân nhà mình, cụ Tứ đang chăm chú cắt tỉa cành đào được cắm ngay ngắn trong một cái lục bình lớn. Mái đầu bạc của cụ ngó nghiêng, ánh mắt nheo nheo ngắm nghía, cái kéo trong tay đưa lên đưa xuống nhịp nhàng. Cành đào cao hơn đầu người, giờ đây trở nên đầy sức sống với lá hoa rực rỡ. Rồi vì thích thú với tác phẩm nghệ thuật của mình, cụ tấm tắc nghĩ bụng: “Đất trời muôn hoa đua nở, vậy mà tự bao giờ hoa Đào đã trở thành biểu tượng của mùa xuân nhỉ? Lại còn được dân gian đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà, để mà điểm tô cho không khí ngày tết. Nhưng hoa Đào cũng xứng với vị thế đứng đầu muôn hoa, với sự yêu mến của con người lắm chứ! Cái giống đào phai này, cành lá gân guốc, gần gũi với tự nhiên. Kể cũng đẹp thật!”. Năm nay cụ mua được cành đào có nhiều búp và lộc, vì vậy mà có thể để chơi đến tận rằm tháng giêng. Trước đó, cụ đã kỳ công gọt bỏ phần cuống vỏ, rồi hơ lửa cho sém. Theo kinh nghiệm dân gian, làm như vậy thì cành đào sẽ để được lâu và cho ra nhiều hoa hơn trong dịp tết.

 

Xong việc, cụ Tứ bước vội lên thềm và nhìn vào chiếc đồng hồ quả lắc cổ treo trong nhà. Đã gần hai giờ chiều.

 

Cụ sốt sắng hỏi lớn:

 

- Nhân ơi! Đã chuẩn bị lạt buộc và găm bánh cho bố chưa?

 

- Rồi bố ạ! Con để ở góc thềm, chỗ khóm hoa hồng ấy! – Tiếng anh con trai từ ngoài vườn rau vọng vào.

 

o0o

 

Căn bếp nhà cụ Tứ khá rộng rãi, lúc này bề bộn những rau quả ngày tết. Nào là thịt, cải bắp, rồi vại dưa cải, dưa hành. Cô con dâu đang bận bịu chuẩn bị gạo nếp và nhân bánh cho cụ. Những hạt nếp mẩy, trắng muốt đã được cô đãi sạch, đựng trong một cái rá vừa vặn. Đây là loại nếp thơm và ngon nhất, gia đình đã kỳ công để dành từ trong năm để gói bánh tết. Chỗ đậu xanh sau khi bỏ vỏ trở nên vàng óng, loang loáng những nước còn chưa ráo. Cạnh đó là một cái tô lớn, đựng đầy thịt lợn thái lát, trộn lẫn hạt tiêu, hành củ và gia vị thơm lừng. Nghe tiếng bố nhắc nhở từ nhà trên, cô biết đã đến giờ gói bánh. Với cụ Tứ, chuyện gì cũng nhất nhất phải tuân theo quy củ nghiêm ngặt thì mới được. Vì vậy mà trong nhà, từ cụ bà, cho đến vợ chồng cô, ai cũng muốn chiều ý để cụ luôn vui lòng.

 

Công việc chuẩn bị đã xong, cô con dâu lễ mễ bê rổ nếp có để sẵn cái bát con lên nhà trên. Cụ Tứ thì lúc này đã trãi sẵn chiếu hoa ra trước thềm, rồi lại đặt lên đó cái mâm đồng sạch bóng. Sau đó cụ đi lấy lá dong, khuôn gói bánh và cả cái kéo để cắt lá nữa. Khi mọi thứ đã đâu vào đấy, cụ Tứ vào thắp lên bàn thờ cây hương trầm, để lát nữa, vừa ngồi gói bánh cụ vừa thưởng thức cái hương vị đầm ấm của ngày tết. Bao giờ cụ cũng có thói quen đó, như là một nghi thức bắt buộc đối với bản thân vậy.

 

Với thái độ điềm tĩnh, cụ Tứ ngồi xếp bằng xuống chiếu, cẩn thận cầm cây kéo để cắt lá dong cho vào khuôn. Bánh chưng được gói trước, vì cụ bà đã dặn kỹ số lượng cần thiết. Khi nào đã đủ bánh chưng, cụ mới bắt đầu quay sang gói bánh tét. Đầu tiên cụ gói ba cặp bánh chưng lớn, một để thờ, hai cặp khác mang đi cúng tết. Cứ được cặp nào, cụ lại để úp vào nhau, dùng lạt buộc chéo chữ thập, rồi để riêng ra một góc chiếu. Những cặp bánh chưng thật đẹp, trông cứ vuông chằn chặn như được cho vào khuôn đúc vậy.

 

Đứa cháu đích tôn chừng năm tuổi, mon men đến ngồi xem ông gói bánh, trên tay còn cầm mấy chiếc kẹo cốm mẹ vừa cho. Nó kéo áo ông, vòi vĩnh:

 

- Ông ơi! Tẹo nữa ông gói cho cháu chiếc bánh tét đầu đày nhé!

 

Dù rất cưng chiều cháu, nhưng cụ vẫn cố tình trêu:

 

- Ừ! Để xem đã, còn thừa nếp thì ông sẽ gói cho!..

 

Đứa bé lắc đầu quầy quậy:

 

- Không! Ông phải gói cho cháu cơ!

 

- Được rồi! Để ông sẽ gói! – Cụ hứa rồi xoa đầu nó âu yếm.

 

Trong làng này, cụ Tứ có tiếng là người gói bánh khéo tay nhất. Bánh chưng do cụ gói vuông vức, lại chặt chẽ, cầm lên cứ nặng chình chịch. Người ta tranh nhau nhờ cụ gói, những mong có được cặp bánh đẹp để thờ và dọn mời khách. Ngày tết ai cũng bận rộn, ngay đến việc nhà làm còn không xuể nữa là, nhưng vì nể nang, cụ cũng nhận gói cho vài ba nhà. Được cụ nhận lời, họ lấy làm hãnh diện lắm, cho nên ai cũng đón tiếp chu đáo cả. Về phần mình, khi mang cái niềm vui đến cho nhà người ta như vậy, cụ cũng thấy ấm áp trong lòng. Đối với một con người cẩn thận như cụ, cái việc gói bánh cũng đòi hỏi nhiều kỳ công lắm. Lá Dong mua về được cụ rửa sạch, để cho ráo nước  rồi buộc chặt quanh cột nhà. Làm như vậy, để đến lúc gói lá dẻo mà không bị rách, lại không quăn mép nữa. Thứ lạt để buộc bánh cũng phải tước cho thật mỏng, làm sao khi giơ lên có thể nhìn suốt từ bên này sang bên kia. Lạt được cụ chẻ trước lúc gói mấy hôm, để cho khô và có độ dẻo nhất định.

 

Bấy giờ trong vùng, người học chữ nho còn lại rất hiếm. Hồi trước, cụ Tứ là học trò của cụ đồ Mai nổi tiếng hay chữ. Vì vậy mà hằng năm, cụ đều tự tay viết câu đối tết treo trong nhà, để lưu giữ cái thú chơi tao nhã của các bậc nho sĩ xưa. Nét chữ đậm nhạt, bay bổng như nhảy múa, khiến cho ai cũng phải tấm tắc khen ngợi. Người ta kính cẩn, xem cụ như là báu vật lưu giữ các giá trị văn hóa của cha ông tự ngàn xưa vậy.

 

Lúc này, cụ Tứ vừa gói bánh vừa đang suy nghĩ cho tứ thơ xuân sắp tới. Từng vần điệu cứ nảy lên trong đầu, nhịp nhàng như một điệu nhạc du dương. Chợt nghe tiếng chó sủa dồn dập, cụ nhìn ra thì thấy có một đứa bé đang từ ngoài cổng đi vào. Chú chó xộc ra khụt khịt đánh hơi, đến khi nghe thấy tiếng mắng của chủ thì mới vội vàng cụp đuôi mà lảng đi chỗ khác.

 

Đứa bé xúng xính trong bộ quần áo mới, khép nép đứng trước mặt cụ Tứ, rụt rè:

 

- Ông ơi! Bố cháu nói… lát nữa mời ông đến gói bánh, để bố kịp nấu tối nay ạ!

 

Nhận ra nó là con chú Xuân trong họ, cụ mỉm cười hiền từ, trong khi tay vẫn không ngừng tra nhân vào bánh:

 

- Cứ về nói với bố chuẩn bị mọi thứ đầy đủ. Gói xong ở nhà là ông sang liền nhé!

 

Đứa bé nhanh nhảu “dạ” một tiếng, rồi chạy vụt ra ngõ.

 

Chỗ nếp cuối vừa đủ để cụ Tứ gói cho đứa cháu cái bánh tét đầu đày, cứ như đã được lường từ trước rồi vậy. Những cặp bánh chưng lúc này được sắp thẳng hàng dưới chiếu, mấy chiếc bánh tét thì tròn trùng trục đều nhau như những chú lợn con ú sữa, nom đến là thích mắt.

 

Nhận chiếc bánh nhỏ có buộc sợi dây lạt từ tay ông, đứa bé mừng quýnh mà đeo toòng teng lên cổ, rồi cứ thế nhảy lò cò khoe khắp nhà:

 

- Ê!.. Ê!.. Bánh đây! Bánh tét đây!...

 

Nét mặt nghiêm nghị, cụ Tứ gọi anh con trai đến dặn:

 

- Bây giờ anh ra bắc bếp, chuẩn bị củi để bố về nấu! Nhớ là phải cho bánh tét xuống dưới nồi, bánh chưng lên trên nhé!

 

Nói rồi cụ cầm theo mớ dây lạt còn thừa, vội vàng đi sang nhà chú Xuân, đến nổi không kịp vào nhà ngồi nghỉ ngơi và uống hớp nước.

 

o0o

 

Bữa cơm chiều hôm ấy, ngồi trên chiếc ghế bọc nỉ ở vị trí trung tâm dành cho chủ nhà, cụ Tứ cất giọng sang sảng:

 

- Sáng mai anh Nhân mang cặp bánh chưng lớn đến nhà bác Thạnh, cặp nữa thì đến chỗ cậu Phương để cúng ông bà và cụ ngoại!...

 

Rồi cụ khoát tay nhìn con, dặn thêm:

 

- Còn nữa! Nhân tiện, anh xem cây bưởi nhà cậu Phương năm nay có sai quả không. Nếu có thì trẩy vài trái về để làm mâm ngũ quả nhé!

 

Việc đó đã thành lệ, năm nào cụ cũng cho mang hai cặp bánh chưng to và đẹp nhất để đến cúng ông bà ngoại cùng cố ngoại ở hai nơi.

 

Những bữa cơm cuối năm thường diễn ra trong không khí khẩn trương, chóng vánh. Người ta ăn vội vàng, vì bao nhiêu là công việc dở dang vẫn còn đang chờ đợi. Cụ Tứ chỉ dùng qua loa vài lưng cơm với món súp, rồi vẫy tay ra hiệu cho anh con trai theo mình xuống bếp.

 

Nồi bánh lúc này đã được bắc lên kiềng, lừng lững choán cả một góc gian bếp. Nhân lấy cái xô nhôm múc nước, rồi khệ nệ nâng lên đổ vào nồi bánh. Cụ Tứ thì chắp tay đứng cạnh bên để mà xem xét mực nước cẩn thận. Khi nước đã xăm xắp chỗ bánh trên cùng, Nhân nhón chân, nhẹ tay rót nhắp từng chút một. Cụ Tứ mắt vẫn không ngừng quan sát, luôn miệng nhắc: “Thêm tí nữa! Tí nữa!...”. Khi thấy lượng nước vừa đủ, cụ giơ ngón tay lên cao ra hiệu: “Được!” – Giọng cụ vang vang, nghiêm khắc như người chỉ huy pháo binh ngoài chiến trường. Anh con trai lập tức ngừng rót nước, rồi mang cái xô lầm lũi đi ra ngoài.

 

Trời vừa nhá nhem tối, cụ Tứ bắt đầu cho củi vào bếp và châm lửa. Ngọn lửa bùng lên sáng bừng cả căn bếp, reo tí tách nghe vui tai. Cụ lại rắc thêm ít trấu để cho lửa bén nhanh hơn. Những thanh củi to đã bắt đầu cháy đượm, cứ duy trì mức lửa như vậy, bánh mới nhừ và ngon. Chốc chốc, cụ lại cầm cái ống tre mà thổi phù phù, khiến cho tàn lửa bắn lên đỏ rực như pháo hoa.

 

Trên chiếc bàn chỗ góc bếp, cụ bà đã chu đáo chuẩn bị sẵn ấm chè xanh ủ nóng, cạnh đó là điếu thuốc lào để ông còn thức canh nồi bánh. Cụ Tứ hài lòng mang những thứ đó xuống cạnh bếp, để vừa đun lửa vừa uống nước và hút thuốc lào cho tiện.

 

Chừng vài tiếng sau, nồi bánh bắt đầu sôi sùng sục. Mùi thơm của nhân bánh, hòa quyện với mùi nếp và lá dong bốc lên ngào ngạt. Cụ Tứ cho thêm củi vào bếp, đỏ lửa thêm một lúc nữa, rồi lại bắt đầu cho nhỏ dần.

 

Đứa cháu đích tôn bổng đâu chạy xuống, sà vào lòng nội quấn quýt, đòi được thức nấu bánh cùng ông. Ngọn lửa bập bùng, khiến cho cái bóng của hai ông cháu in trên bức tường đối diện cứ nhảy nhót như trong một cuốn phim hoạt hình dành cho trẻ thơ. Chẳng lần nào đến chơi với ông mà nó lại không ra một điều kiện náo đó, thực là đứa bé kháu khỉnh và thông minh. Hiểu tâm lý cháu, cụ Tứ chỉ im lặng nhìn vào ngọn lửa, để dò xét thái độ nó xem thế nào. Quả vậy, sau khi dụi dụi cái đầu có những lọn tóc phất phơ vào người ông, nó bắt đầu ngước mắt lên, khẩn khoản:

 

- Ông kể “Sự tích bánh Chưng bánh Dày” đi ông!...

 

Nét mặt cụ Tứ dãn ra, nở nụ cười độ lượng:

 

- Ừ! Ông kể! Cháu ngồi ngoan nào!

 

Khuôn mặt mịn màng non tơ của đứa bé lúc này đỏ hồng lên vì hơi ấm của ngọn lửa. Nó ngoan ngoãn ngồi lại ngay ngắn trên chiếc ghế con, đôi mắt tròn xoe chăm chú nhìn ông, chờ đợi.

 

Đưa tay đẩy mấy cây củi vào trong lò, cụ Tứ bắt đầu kể chậm rãi: “Ngày xưa, vào đời Vua Hùng thứ sáu…”

 

Giọng cụ nhẹ nhàng, như ru cháu vào giấc ngủ: “Một hôm, hoàng tử Lang Liêu nằm mơ thấy có vị thần hiện lên nói: - Này con! Vật trong trời đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy lấy gạo nếp làm bánh hình tròn tượng trưng cho trời, hình vuông tượng trưng cho đất…”.

 

Bị câu chuyện cuốn hút, đứa bé níu lấy áo ông, líu lo:

 

- Lớn lên, cháu cũng sẽ gói bánh chưng như Lang Liêu ấy!...

 

Cụ ôm nó vào lòng, âu yếm:

 

- Ừa! Cháu của ông ngoan và giỏi lắm!.

 

Đêm đã về khuya, ngoài trời bắt đầu mưa phùn và lạnh. Bên ngọn lửa hồng của căn bếp, không gian vẫn ấm áp tình người. Đứa cháu cụ Tứ lúc này đã ngủ ngật ngưỡng, cái đầu nó nghiêng hẳn vào người ông.

 

Cụ lấy tay đỡ cháu, rồi gọi với lên nhà trên:

 

- Bố nó ơi! Xuống cho cháu đi ngủ này!

 

Nghe tiếng bố gọi, Nhân khoác cái áo ấm tùm hum đi xuống bếp. Trước khi bế con lên nhà, anh ngoái đầu lại nhắc bố:

 

- Khi nào bánh chín thì bố đi nghỉ sớm, để mai còn cúng tất niên. Đừng thức khuya mà ảnh hướng sức khỏe bố nhé!

 

Ông gạt đi:

 

- Cứ lên nhà đi! Bố biết rồi!...

 

 Một mình bên nồi bánh chưng xanh, dòng suy tưởng khiến cụ Tứ nhớ đến tổ tiên, cha mẹ. Một lúc lại miên man nghĩ về phong tục gói bánh ngày tết của dân tộc Việt Nam ta xưa. Bốn bề, không gian tĩnh mịch như ru. Vốn có kinh nghiệm nấu bánh lâu năm, cụ chỉ cần lắng nghe tiếng nước sôi cũng đủ biết khi nào thì bánh chín. Lúc này cụ rút mấy thanh củi ra, dụi tắt lửa và vùi vào đống tro. Như vậy có nghĩa là bánh đã chín. Mấy phút sau bánh được vớt ra, tất cả đều được để lên cái chõng tre cho ráo nước.

 

Công việc nấu bánh đã xong, cụ Tứ đóng cánh cửa bếp, bước ra sân để lên nhà trên đi nghỉ. Đêm cuối năm tối bưng, như có ai lấy tay mà bịt con mắt người ta vậy. Tối nay đã là hai chín tết, ngày mai giao thừa rồi. Đâu đó tiếng pháo đì đùng vọng lại, vài cây pháo thăng thiên kêu rin rít rồi bay vụt lên trời, để lại những vệt sáng rực rỡ giữa màn đêm


Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Ngôi chùa cổ


Nền Văn hóa của một dân tộc vốn được biểu hiện dưới dạng 
Vật thể và Phi vật thể. Những giá trị hiện hữu như nhà cửa, kiến trúc, đồ vật thì gọi là vật thể, còn như âm nhạc, văn học, phong tục tập quán thì gọi là phi vật thể vậy. Nghiên cứu văn hóa, người ta sẽ biết được lịch sử dân tộc đó như thế nào, đời sống tinh thần ra làm sao. Cho nên, các giá trị văn hóa vẫn luôn được coi là quốc hồn quốc túy.

 Xa xưa, sau khi quốc gia này đánh bại quốc gia khác, họ mang các linh vật của dân tộc đó về nước. Làm như vậy, nền văn hóa đó coi như đã mất gốc, sẽ dễ bề bị đồng hóa. Vậy nên, song hành với việc bảo vệ lãnh thổ, dân tộc nào cũng phải bảo tồn nền văn hóa của mình, vì rằng “Văn hóa còn, dân tộc còn. Văn hóa mất, dân tộc mất”. Nước Việt ta bốn ngàn năm lịch sử, vì vậy mà văn hóa rất phát triển, cổ vật cũng nhiều.

 

Về sau, các nhân vật tiếng tăm hoặc tài phiệt thường có thú sưu tầm đồ cổ để trưng bày, như là một biểu tượng của sự thành công mỹ mãn. Vì rằng, tiền có thể kiếm được, còn báu vật thì vô giá. Cổ nhân nói quả không sai, phú quý thì sinh lễ nghĩa. Vì thế mới nảy sinh ra cái nạn buôn lậu đồ cổ. Đồ vật niên đại lâu càng có giá trị, dĩ nhiên là còn tùy thuộc vào mức độ tinh xảo và quý hiếm nữa. Các quốc gia đều đặt nạn buôn lậu đồ cổ ra ngoài vòng pháp luật, vì vậy mà người ta chỉ còn cách lấy cắp cổ vật mà thôi.

 

o0o

 

Ở làng Đạo Hạnh, có một ngôi chùa tên là “Linh Nghiệm”, xưa nay vốn nổi tiếng linh thiêng. Chùa nằm ở rìa thôn, có lối kiến trúc chữ Công, phía trước lại được án ngữ bởi cổng tam quan bề thế. Tuy to lớn như vậy, nhưng chùa chỉ có sư trụ trì và vài tăng ni, cho nên không thể nào trông coi cho xuể. Người ta đồn rằng, nơi đây lưu giữ một pho tượng phật, vốn là bảo vật quốc gia từ thời nhà Lý, ngoài ra còn có nhiều báu vật giá trị khác nữa.

 

Sở dĩ chùa có tên như thế, vì nếu ai mất đồ mà đến đây cầu khấn, thì bằng một cách nào đó, vật lại trở về với chủ cũ. Cứ như là có thần phật phù hộ vậy. Có bà kia đánh rơi cái nhẫn vàng gia truyền, hớt hải tìm kiếm khắp nơi nhưng vô vọng. Sau khi cúng ở chùa Linh Nghiệm về, một hôm trong khi làm vườn, tự nhiên bà thấy vật gì đó lấp lánh dưới luống khoai, nhìn kỹ thì hóa ra là cái nhẫn của mình. Bà mừng rỡ, rồi cứ thế đứng giữa vườn rau mà chắp tay bái tạ thần phật lia lịa. Nhà nọ cũng ở ngay trong làng, bị mất một con Trâu cày. Hai ông bà chủ buồn lắm, vì con Trâu là đầu cơ nghiệp của nhà nông mà. Tuy không có hy vọng gì, nhưng họ cũng bảo nhau sắm sanh lễ vật đến chùa Linh Nghiệm. Tối hôm sau, trong lúc cả nhà đang ngủ thì nghe nghe có tiếng chó sủa dồn dập phía chuồng Trâu. Hai ông bà vội cầm đèn ra soi thì thấy chú Trâu nhà mình bổng đâu như trên trời rơi xuống, đang đứng cọ cọ sừng vào chuồng mà đòi ăn. Chính vì những câu chuyện mang màu sắc huyền bí như vậy, cho nên chùa Linh nghiệm ngày càng trở nên nổi tiếng khắp nơi.

 

Trước vấn nạn mất cắp cổ vật nhiều như hiện nay, các cụ già ở thôn Đạo Hạnh cũng trăn trở lắm. Vì tầng lớp cao niên bao giờ cũng sốt sắng với công việc bảo tồn vốn cổ ông cha để lại. Các cụ họp với nhau, rồi bàn về việc thành lập một tổ canh gác, gọi là “Đội bảo vệ cổ vật”, gồm có mười thanh niên trai tráng. Đội này sẽ do cụ Phạm Tăng - một người nổi tiếng là mưu lược và có can đảm - phụ trách. Theo kế hoạch, ngày nào cũng sẽ có ít nhất vài ba thanh niên canh gác tại Chùa.

 

Hôm thành lập “Đội bảo vệ cổ vật”, dưới gốc cây đa cổ thụ trong sân chùa, ngay trước mặt sư cụ và toàn thể bà con thôn Đạo Hạnh, cụ Phạm Tăng dõng dạc tuyên bố:

 

- Thưa toàn thể bà con! Chùa Linh Nghiệm vốn gắn liền với lịch sử của thôn ta. Vì vậy, bảo vệ cổ vật của chùa cũng chính là bảo vệ văn hóa và lịch sử địa phương. Từ nay, chúng tôi tuyên bố thành lập “Đội bảo vệ cổ vật”, bao gồm có mười thành viên!…

 

o0o

 

Phía bên kia cánh đồng có một thôn gọi là Tây Sở, từ bên này có thể nghe được tiếng chuông gióng dả của chùa Linh nghiệm mỗi ngày. Trong thôn có hai tên trộm chuyên nghiệp là Sếu và Vạc. Sếu thì cao lêu đêu như cây sào, hai cẳng tay dài ngoẳng, mặt lúc nào cũng đỏ phừng như say rượu. Vạc tuy nhỏ con nhưng lanh lợi, chỉ cần người ta sơ ý, trong nháy mắt là hắn đã có thể thó được đồ rồi chuồn đi lúc nào chẳng ai hay. Cặp mắt hắn trắng dã, láo liên, rõ là phường gian manh. Chùa Linh Nghiệm ở ngay cạnh, lại có bảo vật quốc gia, dĩ nhiên là miếng mồi ngon của chúng. Sếu và Vạc đã để ý rình mò từ lâu, ngặt vì lúc nào chùa cũng có người canh gác nên chưa thể ra tay được. Dịp này, chúng bàn với nhau sẽ lấy trộm cổ vật ở chùa Linh Nghiệm để mà bán lấy tiền tiêu tết.

 

 Tại thôn Đạo Hạnh, lúc này cụ Phạm Tăng tập hợp “Đội bảo vệ cổ vật” và giao nhiệm vụ:

 

- Tháng này là tháng củ mật, bọn đạo chích cũng thường hoạt động mạnh vào dịp này. Cho nên chúng ta cần phải hết sức đề phòng. Đặt biệt là công tác bảo vệ chùa Linh Nghiệm. Từ nay, các anh trong “Đội bảo vệ cổ vật” không được rượu chè mà trễ nãi việc phòng bị, lúc nào cũng phải có người canh gác tại chùa. Khi phát hiện kẻ gian đột nhập, lập tức đánh kẻng báo động ngay!...

 

Tất cả đồng thanh hô: Rõ.

 

Nhận được mệnh lệnh, đội bảo vệ thường xuyên túc trực tại chùa, một phút một giây cũng không dám lơ là.

 

Hôm ấy là ngày hai sáu tết ta, một tay trong “Đội bảo vệ cổ vật” có thịt con lợn nhà để bán. Có rượu và đồ nhắm ngon, cả bọn bèn rủ nhau tập trung tại nhà tên này để mà ăn nhậu. Mặc dù có nhớ lời các bậc cao niên dặn, nhưng vì không thể cưỡng được cái thú đàn đúm, chúng đành nhắm mắt mà phá lệ. Tuy nhiên, chúng cũng cử một tên không biết uống rượu ra canh gác tại chùa. Để khỏi thiệt thòi, tên này cũng được đồng bọn mang cho một đĩa nhậu kèm với be rượu. Tiết trời hiu hiu, cảnh chùa lúc này thanh vắng không một bóng người. Buồn tình, hắn chui vào đống rơm mà rót rượu ra uống và nhắm với món lòng lợn. Vì tửu lượng thấp, uống được nửa be thì hắn liền lăn ra ngủ mê mệt, lại còn kéo rơm cẩn thận phủ kín người cho ấm.

 

Rình mò đã lâu, lúc này thấy chùa không có người gác như mọi hôm, Sếu và Vạc liền nhanh chân đột nhập vào. Sau khi đi qua dãy hành lang, chúng lẻn ngay vào trong chính điện. Lúc đầu, Vạc đứng ở cửa gác cho Sếu vào lấy. Sau rồi thấy không có ai, hắn cũng vào vơ vội được một cặp chân đèn.

 

Lấy trộm cổ vật xong, hai tên trộm vội vàng chuồn ra khỏi chùa, rồi nhảy qua con mương cạn để quay về làng. Sếu cầm trên tay bức tượng Phật nhỏ bằng đồng, hai con Nghê và một Lư hương cổ quý hiếm khác. Vạc vì đứng gác, lại vội vàng cho nên chỉ lấy được cặp chân đèn, chẳng hiểu có phải là đồ cổ hay không nữa. Rõ ràng là số đồ cổ mà Sếu lấy được có giá trị hơn rất nhiều.

 

Sợ có người đuổi theo nên Sếu thoăn thoắt đi trước, còn Vạc thì lầm lũi bước theo.

 

Thấy đồng bọn không đả động gì đến chuyện ăn chia, Vạc mặc cả:

 

- Tiền chia đôi đó nhé!

 

Lòng tham nổi lên, Sếu trả lời dấm dẳng:

 

- Của ai thì người đó bán lấy tiền! Không chia với chác gì cả!...

 

Nghe vậy, Vạc điên tiết nghĩ bụng “Mình canh gác cho nó vào lấy báu vật. Vậy mà bây giờ nó lại trở mặt. Đúng là đồ tham lam mà!”. Rồi không còn nhịn được nữa, hắn liền ném cặp chân đèn xuống ruộng, quát lên:

 

- Đừng có mà nuốt lời nhé! Có chịu chia không thì bảo?...

 

Sếu cũng trợn mắt:

 

- Không chia đấy! Mày làm được gì ông nào?

 

Rồi hắn cũng quẳng mấy món đồ vừa lấy được xuống chân ruộng, xông vào mà ẩu đả với Vạc. Cuộc chiến của lòng tham cứ thế diễn ra kịch liệt, bất phân thắng bại.

 

Lại nói về tên gác trong chùa. Lúc này vừa tỉnh rượu, hắn liền lóp ngóp bò dậy. Bất giác hắn thấy có hình thù gì đó chuyển động phía bên kia bờ mương như luyện võ. Sau khi dụi mắt để nhìn cho kỹ, hắn nhận ra có hai người đang đánh nhau chí tử bên đó. Nghi là có trộm, hắn liền lập tức đánh kẻng báo động. Thế là dân làng ùa ra, bắt trói được ngay cả Sếu và Vạc, trong khi hai tên này vẫn đang ôm nhau vật lộn mà không hay biết gì đến trời đất xung quanh cả.

 

o0o

 

Sếu và Vạc mình mẩy lấm lem bùn đất, cùng tang chứng vật chứng bị người ta đưa vào trong chùa, rồi giải ngay đến trước mặt sư cụ.

 

Nhìn hai tên trộm đang bị trói giật cánh khuỷa, sư cụ từ tốn hỏi:

 

- Mô Phật! Hai thí chủ ở đâu mà lạc vào Chùa ăn cắp bảo vật thế này? Thí chủ có biết làm như vậy là có hại cho quốc gia lắm không?

 

Sếu và Vạc sợ hãi muôn phần, quỳ xuống van lạy:

 

- Dạ! Chúng con trót dại. Xin sư cụ tha cho! Chúng con xin thề, từ nay sẽ không bao giờ dám làm như vậy nữa!...

 

Được người ta cấp báo, lúc này cụ Phạm Tăng đã hộc tốc có mặt. Cụ sốt sắng rẽ đám người hiếu kỳ đang vây quanh, bước vào tận bên trong để nhìn cho rõ mặt hai tên trộm.

 

Sau khi vểnh bộ râu dài kiêu dũng nhìn khắp một lượt, với một vẻ mặt không thể oai phong hơn, cụ Phạm Tăng thét lớn:

 

- Đội “Bảo vệ cổ vật” tập hợp!

 

Mười tên trong đội lập tức đứng sắp thành hàng ngang ngay ngắn.

 

Cụ Phạm Tăng nhanh nhẹn đi duyệt một lượt trước hàng quân, ra lệnh:

 

- Giải ngay hai tên trộm cổ vật này lên huyện. Cho chúng nó ở tù mọt gông, để từ nay không còn dám dòm ngó bảo vật quốc gia nữa mới thôi!

 

Cả đội dập chân đánh cộp, đồng thanh hô: “Rõ”.

 

Sư cụ bước đến trước mặt cụ Phạm Tăng, chắp tay mà rằng:

 

- Mô Phật! Tham, sân, si vốn là tật xấu của chúng sinh. Đức Phật vẫn luôn mở rộng cửa từ bi, hướng người ta đến cõi thiện. Nhà Chùa ghi nhận công lao của cụ Phạm Tăng cũng như “Đội bảo vệ cổ vật” đây, nhưng xin các vị hãy từ tâm mà tha thứ cho hai kẻ lỗi lầm. Vì xem ra chúng cũng là người biết phục thiện, lại đã trao trả đầy đủ cổ vật, chưa có thất thoát gì. Đừng giải lên Công An để họ phải ngồi tù mà tội nghiệp. Xin các vị hãy nể tình bần tăng! Mô Phật!

 

Nghe sư cụ nói thế, cụ Phạm Tăng đành phải quyết định tha cho hai tên trộm, mặc dù trong lòng vẫn còn hậm hực lắm. Sếu và Vạc thì quá đổi vui mừng, bấy giờ chúng chỉ còn biết nước mắt ròng ròng mà vái lạy sư cụ như tế sao.