Mặt trời mùa đông như con mắt của người ngái ngủ, chỉ lim dim
chứ không mở hẳn bao giờ, rồi lại bị những đám mây màu xám bạc che khuất triền
miên. Làn gió thổi nhẹ, làm rung rinh những nụ hồng và thược dược, lang thang
quét qua mấy luống rau màu xanh thẫm trong khu vườn. Ngoài đường, mọi người
đang tất bật đi lại sắm tết hay vì một công việc xã giao nào đó. Tuy tiết trời khô
hanh, nhưng cái rét ngọt như cắt thịt da, khiến cho người ta phải diện nguyên
cả bộ đồ ấm dày cộp, trong khi vẫn bận bịu với bao nhiêu là công việc cuối năm.
Trong sân nhà mình, cụ Tứ đang chăm chú cắt tỉa cành đào
được cắm ngay ngắn trong một cái lục bình lớn. Mái đầu bạc của cụ ngó nghiêng,
ánh mắt nheo nheo ngắm nghía, cái kéo trong tay đưa lên đưa xuống nhịp nhàng.
Cành đào cao hơn đầu người, giờ đây trở nên đầy sức sống với lá hoa rực rỡ. Rồi
vì thích thú với tác phẩm nghệ thuật của mình, cụ tấm tắc nghĩ bụng: “Đất trời
muôn hoa đua nở, vậy mà tự bao giờ hoa Đào đã trở thành biểu tượng của mùa xuân
nhỉ? Lại còn được dân gian đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà, để mà điểm tô
cho không khí ngày tết. Nhưng hoa Đào cũng xứng với vị thế đứng đầu muôn hoa,
với sự yêu mến của con người lắm chứ! Cái giống đào phai này, cành lá gân guốc,
gần gũi với tự nhiên. Kể cũng đẹp thật!”. Năm nay cụ mua được cành đào có nhiều
búp và lộc, vì vậy mà có thể để chơi đến tận rằm tháng giêng. Trước đó, cụ đã
kỳ công gọt bỏ phần cuống vỏ, rồi hơ lửa cho sém. Theo kinh nghiệm dân gian,
làm như vậy thì cành đào sẽ để được lâu và cho ra nhiều hoa hơn trong dịp tết.
Xong việc, cụ Tứ bước vội lên thềm và nhìn vào chiếc đồng hồ quả
lắc cổ treo trong nhà. Đã gần hai giờ chiều.
Cụ sốt sắng hỏi lớn:
- Nhân ơi! Đã chuẩn bị lạt buộc và găm bánh cho bố chưa?
- Rồi bố ạ! Con để ở góc thềm, chỗ khóm hoa hồng ấy! – Tiếng anh
con trai từ ngoài vườn rau vọng vào.
o0o
Căn bếp nhà cụ Tứ khá rộng rãi, lúc này bề bộn những rau quả
ngày tết. Nào là thịt, cải bắp, rồi vại dưa cải, dưa hành. Cô con dâu đang bận
bịu chuẩn bị gạo nếp và nhân bánh cho cụ. Những hạt nếp mẩy, trắng muốt đã được
cô đãi sạch, đựng trong một cái rá vừa vặn. Đây là loại nếp thơm và ngon nhất,
gia đình đã kỳ công để dành từ trong năm để gói bánh tết. Chỗ đậu xanh sau khi
bỏ vỏ trở nên vàng óng, loang loáng những nước còn chưa ráo. Cạnh đó là một cái
tô lớn, đựng đầy thịt lợn thái lát, trộn lẫn hạt tiêu, hành củ và gia vị thơm
lừng. Nghe tiếng bố nhắc nhở từ nhà trên, cô biết đã đến giờ gói bánh. Với cụ
Tứ, chuyện gì cũng nhất nhất phải tuân theo quy củ nghiêm ngặt thì mới được. Vì
vậy mà trong nhà, từ cụ bà, cho đến vợ chồng cô, ai cũng muốn chiều ý để cụ
luôn vui lòng.
Công việc chuẩn bị đã xong, cô con dâu lễ mễ bê rổ nếp có để sẵn
cái bát con lên nhà trên. Cụ Tứ thì lúc này đã trãi sẵn chiếu hoa ra trước
thềm, rồi lại đặt lên đó cái mâm đồng sạch bóng. Sau đó cụ đi lấy lá dong,
khuôn gói bánh và cả cái kéo để cắt lá nữa. Khi mọi thứ đã đâu vào đấy, cụ Tứ
vào thắp lên bàn thờ cây hương trầm, để lát nữa, vừa ngồi gói bánh cụ vừa
thưởng thức cái hương vị đầm ấm của ngày tết. Bao giờ cụ cũng có thói quen đó,
như là một nghi thức bắt buộc đối với bản thân vậy.
Với thái độ điềm tĩnh, cụ Tứ ngồi xếp bằng xuống chiếu, cẩn thận
cầm cây kéo để cắt lá dong cho vào khuôn. Bánh chưng được gói trước, vì cụ bà
đã dặn kỹ số lượng cần thiết. Khi nào đã đủ bánh chưng, cụ mới bắt đầu quay
sang gói bánh tét. Đầu tiên cụ gói ba cặp bánh chưng lớn, một để thờ, hai cặp
khác mang đi cúng tết. Cứ được cặp nào, cụ lại để úp vào nhau, dùng lạt buộc
chéo chữ thập, rồi để riêng ra một góc chiếu. Những cặp bánh chưng thật đẹp,
trông cứ vuông chằn chặn như được cho vào khuôn đúc vậy.
Đứa cháu đích tôn chừng năm tuổi, mon men đến ngồi xem ông gói
bánh, trên tay còn cầm mấy chiếc kẹo cốm mẹ vừa cho. Nó kéo áo ông, vòi vĩnh:
- Ông ơi! Tẹo nữa ông gói cho cháu chiếc bánh tét đầu đày nhé!
Dù rất cưng chiều cháu, nhưng cụ vẫn cố tình trêu:
- Ừ! Để xem đã, còn thừa nếp thì ông sẽ gói cho!..
Đứa bé lắc đầu quầy quậy:
- Không! Ông phải gói cho cháu cơ!
- Được rồi! Để ông sẽ gói! – Cụ hứa rồi xoa đầu nó âu yếm.
Trong làng này, cụ Tứ có tiếng là người gói bánh khéo tay nhất.
Bánh chưng do cụ gói vuông vức, lại chặt chẽ, cầm lên cứ nặng chình chịch.
Người ta tranh nhau nhờ cụ gói, những mong có được cặp bánh đẹp để thờ và dọn
mời khách. Ngày tết ai cũng bận rộn, ngay đến việc nhà làm còn không xuể nữa
là, nhưng vì nể nang, cụ cũng nhận gói cho vài ba nhà. Được cụ nhận lời, họ lấy
làm hãnh diện lắm, cho nên ai cũng đón tiếp chu đáo cả. Về phần mình, khi mang
cái niềm vui đến cho nhà người ta như vậy, cụ cũng thấy ấm áp trong
lòng. Đối với một con người cẩn thận như cụ, cái việc gói bánh cũng đòi
hỏi nhiều kỳ công lắm. Lá Dong mua về được cụ rửa sạch, để cho ráo nước
rồi buộc chặt quanh cột nhà. Làm như vậy, để đến lúc gói lá dẻo mà không
bị rách, lại không quăn mép nữa. Thứ lạt để buộc bánh cũng phải tước cho thật
mỏng, làm sao khi giơ lên có thể nhìn suốt từ bên này sang bên kia. Lạt được cụ
chẻ trước lúc gói mấy hôm, để cho khô và có độ dẻo nhất định.
Bấy giờ trong vùng, người học chữ nho còn lại rất hiếm. Hồi
trước, cụ Tứ là học trò của cụ đồ Mai nổi tiếng hay chữ. Vì vậy mà hằng năm, cụ
đều tự tay viết câu đối tết treo trong nhà, để lưu giữ cái thú chơi tao nhã của
các bậc nho sĩ xưa. Nét chữ đậm nhạt, bay bổng như nhảy múa, khiến cho ai cũng
phải tấm tắc khen ngợi. Người ta kính cẩn, xem cụ như là báu vật lưu giữ các
giá trị văn hóa của cha ông tự ngàn xưa vậy.
Lúc này, cụ Tứ vừa gói bánh vừa đang suy nghĩ cho tứ thơ xuân
sắp tới. Từng vần điệu cứ nảy lên trong đầu, nhịp nhàng như một điệu nhạc du
dương. Chợt nghe tiếng chó sủa dồn dập, cụ nhìn ra thì thấy có một đứa bé đang
từ ngoài cổng đi vào. Chú chó xộc ra khụt khịt đánh hơi, đến khi nghe thấy
tiếng mắng của chủ thì mới vội vàng cụp đuôi mà lảng đi chỗ khác.
Đứa bé xúng xính trong bộ quần áo mới, khép nép đứng trước mặt
cụ Tứ, rụt rè:
- Ông ơi! Bố cháu nói… lát nữa mời ông đến gói bánh, để bố kịp
nấu tối nay ạ!
Nhận ra nó là con chú Xuân trong họ, cụ mỉm cười hiền
từ, trong khi tay vẫn không ngừng tra nhân vào bánh:
- Cứ về nói với bố chuẩn bị mọi thứ đầy đủ. Gói xong ở nhà là ông sang liền nhé!
Đứa bé nhanh nhảu “dạ” một tiếng, rồi chạy vụt ra ngõ.
Chỗ nếp cuối vừa đủ để cụ Tứ gói cho đứa cháu cái bánh tét đầu
đày, cứ như đã được lường từ trước rồi vậy. Những cặp bánh chưng lúc này được
sắp thẳng hàng dưới chiếu, mấy chiếc bánh tét thì tròn trùng trục đều nhau như
những chú lợn con ú sữa, nom đến là thích mắt.
Nhận chiếc bánh nhỏ có buộc sợi dây lạt từ tay ông, đứa bé mừng
quýnh mà đeo toòng teng lên cổ, rồi cứ thế nhảy lò cò khoe khắp nhà:
- Ê!.. Ê!.. Bánh đây! Bánh tét đây!...
Nét mặt nghiêm nghị, cụ Tứ gọi anh con trai đến dặn:
- Bây giờ anh ra bắc bếp, chuẩn bị củi để bố về nấu! Nhớ là phải
cho bánh tét xuống dưới nồi, bánh chưng lên trên nhé!
Nói rồi cụ cầm theo mớ dây lạt còn thừa, vội vàng đi sang nhà
chú Xuân, đến nổi không kịp vào nhà ngồi nghỉ ngơi và uống hớp nước.
o0o
Bữa cơm chiều hôm ấy, ngồi trên chiếc ghế bọc nỉ ở vị trí trung
tâm dành cho chủ nhà, cụ Tứ cất giọng sang sảng:
- Sáng mai anh Nhân mang cặp bánh chưng lớn đến nhà bác
Thạnh, cặp nữa thì đến chỗ cậu Phương để cúng ông bà và cụ ngoại!...
Rồi cụ khoát tay nhìn con, dặn thêm:
- Còn nữa! Nhân tiện, anh xem cây bưởi nhà cậu Phương năm nay có
sai quả không. Nếu có thì trẩy vài trái về để làm mâm ngũ quả nhé!
Việc đó đã thành lệ, năm nào cụ cũng cho mang hai cặp bánh chưng
to và đẹp nhất để đến cúng ông bà ngoại cùng cố ngoại ở hai nơi.
Những bữa cơm cuối năm thường diễn ra trong không khí khẩn
trương, chóng vánh. Người ta ăn vội vàng, vì bao nhiêu là công việc dở dang vẫn
còn đang chờ đợi. Cụ Tứ chỉ dùng qua loa vài lưng cơm với món súp, rồi vẫy tay
ra hiệu cho anh con trai theo mình xuống bếp.
Nồi bánh lúc này đã được bắc lên kiềng, lừng lững choán cả một
góc gian bếp. Nhân lấy cái xô nhôm múc nước, rồi khệ nệ nâng lên đổ vào nồi
bánh. Cụ Tứ thì chắp tay đứng cạnh bên để mà xem xét mực nước cẩn thận. Khi
nước đã xăm xắp chỗ bánh trên cùng, Nhân nhón chân, nhẹ tay rót nhắp từng chút
một. Cụ Tứ mắt vẫn không ngừng quan sát, luôn miệng nhắc: “Thêm tí nữa! Tí
nữa!...”. Khi thấy lượng nước vừa đủ, cụ giơ ngón tay lên cao ra hiệu: “Được!”
– Giọng cụ vang vang, nghiêm khắc như người chỉ huy pháo binh ngoài chiến
trường. Anh con trai lập tức ngừng rót nước, rồi mang cái xô lầm lũi đi ra
ngoài.
Trời vừa nhá nhem tối, cụ Tứ bắt đầu cho củi vào bếp và châm
lửa. Ngọn lửa bùng lên sáng bừng cả căn bếp, reo tí tách nghe vui tai. Cụ lại
rắc thêm ít trấu để cho lửa bén nhanh hơn. Những thanh củi to đã bắt đầu cháy
đượm, cứ duy trì mức lửa như vậy, bánh mới nhừ và ngon. Chốc chốc, cụ lại cầm
cái ống tre mà thổi phù phù, khiến cho tàn lửa bắn lên đỏ rực như pháo hoa.
Trên chiếc bàn chỗ góc bếp, cụ bà đã chu đáo chuẩn bị sẵn ấm chè
xanh ủ nóng, cạnh đó là điếu thuốc lào để ông còn thức canh nồi bánh. Cụ Tứ hài
lòng mang những thứ đó xuống cạnh bếp, để vừa đun lửa vừa uống nước và hút
thuốc lào cho tiện.
Chừng vài tiếng sau, nồi bánh bắt đầu sôi sùng sục. Mùi thơm của
nhân bánh, hòa quyện với mùi nếp và lá dong bốc lên ngào ngạt. Cụ Tứ cho thêm
củi vào bếp, đỏ lửa thêm một lúc nữa, rồi lại bắt đầu cho nhỏ dần.
Đứa cháu đích tôn bổng đâu chạy xuống, sà vào lòng nội quấn quýt,
đòi được thức nấu bánh cùng ông. Ngọn lửa bập bùng, khiến cho cái bóng của hai
ông cháu in trên bức tường đối diện cứ nhảy nhót như trong một cuốn phim hoạt
hình dành cho trẻ thơ. Chẳng lần nào đến chơi với ông mà nó lại không ra một
điều kiện náo đó, thực là đứa bé kháu khỉnh và thông minh. Hiểu tâm lý cháu, cụ
Tứ chỉ im lặng nhìn vào ngọn lửa, để dò xét thái độ nó xem thế nào. Quả vậy,
sau khi dụi dụi cái đầu có những lọn tóc phất phơ vào người ông, nó bắt đầu
ngước mắt lên, khẩn khoản:
- Ông kể “Sự tích bánh Chưng bánh Dày” đi ông!...
Nét mặt cụ Tứ dãn ra, nở nụ cười độ lượng:
- Ừ! Ông kể! Cháu ngồi ngoan nào!
Khuôn mặt mịn màng non tơ của đứa bé lúc này đỏ hồng lên vì hơi
ấm của ngọn lửa. Nó ngoan ngoãn ngồi lại ngay ngắn trên chiếc ghế con, đôi mắt
tròn xoe chăm chú nhìn ông, chờ đợi.
Đưa tay đẩy mấy cây củi vào trong lò, cụ Tứ bắt đầu kể chậm
rãi: “Ngày xưa, vào đời Vua Hùng thứ sáu…”
Giọng cụ nhẹ nhàng, như ru cháu vào giấc ngủ: “Một hôm,
hoàng tử Lang Liêu nằm mơ thấy có vị thần hiện lên nói: - Này con! Vật trong
trời đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con
hãy lấy gạo nếp làm bánh hình tròn tượng trưng cho trời, hình vuông tượng trưng
cho đất…”.
Bị câu chuyện cuốn hút, đứa bé níu lấy áo ông, líu lo:
- Lớn lên, cháu cũng sẽ gói bánh chưng như Lang Liêu ấy!...
Cụ ôm nó vào lòng, âu yếm:
- Ừa! Cháu của ông ngoan và giỏi lắm!.
Đêm đã về khuya, ngoài trời bắt đầu mưa phùn và lạnh. Bên ngọn
lửa hồng của căn bếp, không gian vẫn ấm áp tình người. Đứa cháu cụ Tứ lúc này
đã ngủ ngật ngưỡng, cái đầu nó nghiêng hẳn vào người ông.
Cụ lấy tay đỡ cháu, rồi gọi với lên nhà trên:
- Bố nó ơi! Xuống cho cháu đi ngủ này!
Nghe tiếng bố gọi, Nhân khoác cái áo ấm tùm hum đi xuống bếp.
Trước khi bế con lên nhà, anh ngoái đầu lại nhắc bố:
- Khi nào bánh chín thì bố đi nghỉ sớm, để mai còn cúng tất
niên. Đừng thức khuya mà ảnh hướng sức khỏe bố nhé!
Ông gạt đi:
- Cứ lên nhà đi! Bố biết rồi!...
Một mình bên nồi bánh chưng xanh, dòng suy tưởng khiến cụ Tứ
nhớ đến tổ tiên, cha mẹ. Một lúc lại miên man nghĩ về phong tục gói bánh ngày
tết của dân tộc Việt Nam ta xưa. Bốn bề, không gian tĩnh mịch như ru. Vốn có
kinh nghiệm nấu bánh lâu năm, cụ chỉ cần lắng nghe tiếng nước sôi cũng đủ biết
khi nào thì bánh chín. Lúc này cụ rút mấy thanh củi ra, dụi tắt lửa và vùi vào
đống tro. Như vậy có nghĩa là bánh đã chín. Mấy phút sau bánh được vớt ra, tất
cả đều được để lên cái chõng tre cho ráo nước.
Công việc nấu bánh đã xong, cụ Tứ đóng cánh cửa bếp, bước ra sân
để lên nhà trên đi nghỉ. Đêm cuối năm tối bưng, như có ai lấy tay mà bịt con
mắt người ta vậy. Tối nay đã là hai chín tết, ngày mai giao thừa rồi. Đâu đó
tiếng pháo đì đùng vọng lại, vài cây pháo thăng thiên kêu rin rít rồi bay vụt
lên trời, để lại những vệt sáng rực rỡ giữa màn đêm
