Để có tiền trang trãi thêm cho việc học, anh thường buôn hàng
hoá từ thành phố về quê. Anh buôn đủ thứ, từ bao diêm, kim chỉ, đèn pin, cho đến
cả mớ dây chun dài loằng ngoằng nữa. Những thứ đó anh mua về, rồi nhập sỉ cho
các bà, các cô bán hàng xén ở chợ.
Sơn cũng đã từng được chứng kiến nhiều người sinh viên như thế.
Nghỉ tết, họ thường tranh thủ mang về quê đủ thứ hàng hoá và cả pháo nổ, pháo
hoa để bán ở những phiên chợ tết.
Anh Thắm có vóc dáng cao lớn, mắt sáng, miệng rộng, đặc biệt
là anh rất vui tính. Sơn chưa từng thấy anh than khó, than phiền bao giờ cả;
ngược lại, anh còn hay bông đùa để cho không khí lúc nào cũng trở nên vui vẻ, lạc
quan hơn.
Ngoài buôn bán, anh Thắm còn chọn cho mình một công việc đòi
hỏi vốn kiến thức lịch sử phong phú, ấy là buôn đồ cổ. Dĩ nhiên đồ cổ mà anh nhắm
tới cũng chỉ thuộc loại rẻ tiền, phù hợp với khả năng tài chính của sinh viên.
Đôi khi cũng vớ phải món bở, vì chủ nhân không biết giá trị của đồ vật, bán như
cho. Những khi ấy, anh có món lãi lớn, có thể an tâm ăn học mấy tháng liền mà
không cần đến tiền trợ cấp của gia đình nữa.
Anh Thắm rất giỏi, chỉ cần thoáng qua là anh biết được ngay xuất
xứ, niên đại, chủng loại của cổ vật. Nhìn hoa văn và hình vẽ trên đó, anh cũng
đọc được ngay đó là điển tích, điển cố gì.
Đối tượng mà anh nhắm tới là những gia đình địa chủ, hào môn
xưa. Đơn giản, vì chỉ những gia đình như vậy thì mới có cổ vật ở trong nhà.
Năm 1986, mùa hè rất nóng và khô hanh. Mặt trời như một lò lửa
khổng lồ, rọi xuống mặt đất những tia nắng vàng rộm và chói chang như thiêu đốt.
Đến con chó giữ nhà cũng phải tìm những nơi bóng mát, nằm thè lưỡi mà thở dốc,
hai con mắt thì cứ mở to thao láo đầy vẻ kinh hãi. Cây Cam, cây Bưởi trong vườn
ban ngày cành lá héo rũ, phải đợi đến đêm mới có chút hơi sương để lấy lại chút
sinh khí tốt tươi. Trên những thửa ruộng còn trơ lại gốc rạ, mặt đất nứt nẻ,
khô rang. Dòng sông cũng cạn gần tới đáy, trơ ra những thứ rác rưởi và đám rong
rêu xanh rì. Mãi gần đến mùa thu thì trời mới bắt đầu dịu hơn một chút. Những
cơn gió nồm mang theo hơi nước từ biển mát rượi, thổi lật tung những cánh cửa sổ
và mơn man khắp da thịt người. Rồi những cơn giông cũng ập đến, dòng sông lại đầy,
lại toả ra làn không khí mát dịu mỗi lúc chiều buông.
Cũng dịp này, anh Thắm từ Hà Nội về nhà Sơn chơi.
Trong bữa cơm hôm ấy, anh hỏi:
- Vùng mình, có nhà nào có cổ vật bán không mợ nhỉ?
Mẹ Sơn ngơ ngác, không hiểu:
- Cổ vật là những gì?
- À!…Bình gốm, tranh khảm, ấm chén, đĩa…cổ đó mợ - Anh Thắm
nhíu mày, cố tìm cách để diễn đạt cho phù hợp.
Bố Sơn ngừng đũa, nhìn vợ:
- Thì…là đồ cổ đấy! Là những đồ vật lâu năm có giá trị. Giống
như các mẫu vật mà người ta vẫn hay trưng bày trong viện bảo tàng ấy…
- Vâng!...Vâng! Đúng như vậy đấy ạ! – Anh Thắm vui vẻ tán
thành, nét mặt tươi tỉnh hẳn lên.
Đến đây thì mẹ Sơn đã hiểu phần nào. Bà lặng im ngẫm nghĩ một
lúc, rồi nói:
- Cái này thì mợ không rành lắm. Nhưng dưới làng Cổ Am có nhà
thầy Dương. Sơ đời ông nội thầy ấy là địa chủ, giàu có nức tiếng cả làng cả tổng
cơ đấy. Cháu thử đến đó hỏi xem sao?...
Sơn ngừng môi chan canh, nhanh nhảu:
- Em cũng biết nhà thầy Dương. Nhà thầy ấy ở ngay dưới kia!...
- Vậy thì chiều nay em dẫn anh tới đó nhé! – Anh Thắm nhẹ
nhàng xoa đầu Sơn, nói.
Chiếc xe đạp của hai anh em chạy lóc cóc trên con đường làng
sỏi đá nhấp nhô. Anh Thắm vẫn đạp xe đều đều, thi thoảng lại cất tiếng hỏi:
- Gần đến chưa?
Sơn ngồi sau gác ba ga, líu lo:
- Chưa! Anh cứ đi tiếp đi!...
Một lúc sau thì ngôi làng thầy Dương đã hiện ra trước mắt.
Ngôi làng nằm giữa cánh đồng, xung quanh cây cối rậm rì. Thấp thoáng những mái
ngói nhô lên, nom giống như bức tranh làng quê mà Sơn vẫn thường thấy trong các
sách giáo khoa mà cậu đã học.
Đi qua một cây cầu đá nhỏ thì vào đến trong làng.
Đến cổng nhà thầy Dương, hai anh em xuống xe rồi dắt bộ vào trong
sân. Đó là một ngôi nhà ngói ba gian hai chái khá bề thế. Đằng trước có những
cánh cửa bằng lim với các hình chạm khắc và con tiện chạy dài.
Chủ nhà đang lúi húi nhổ cỏ bên mấy luống rau ngoài vườn. Thấy
nhà có khách, ông liền ngừng tay và chậm rãi đi vào. Đến chỗ cái lu sành đặt dưới
gốc cây ổi, ông dừng lại, múc nước rửa tay, dẫm lạch bạch cho đất rơi ra rồi mới
bước vào trong sân.
- Chào thầy ạ! – Anh Thắm và Sơn cất tiếng, gần như đồng thanh.
Chủ nhà hấp háy con mắt nhìn họ, ngỡ ngàng:
- Anh đây là?...- Thầy Dương toan hỏi thêm, nhưng khi nhìn thấy
Sơn, thầy nghĩ anh Thắm là chỗ quen biết với gia đình Sơn nên lại thôi. Ông chỉ
giơ bàn tay lên, thấp giọng – Mời anh và cháu vào chơi!...
Họ bước qua cái bậu cửa cao bằng gỗ để vào trong nhà.
- Anh và cháu ngồi đi! - Chủ nhà vừa cài cúc áo sơ mi, vừa nói.
Hai anh em lịch sự ngồi xuống bộ trường kỉ nhẵn bóng được kê ngay
giữa phòng khách.
Anh Thắm giới thiệu xong thì bắt đầu hỏi thăm gia cảnh chủ
nhà. Không khí vui vẻ, thân tình lắm.
Trong lúc nói chuyện. anh để ý thấy có mấy cái bình gốm, lư
hương và đĩa cổ trưng trên cái tủ chè gần đó thì đã mừng thầm. Trên tường lại
treo những bức tranh khảm trai rất tinh xảo, có tuổi đời ít nhất cũng phải đến
cả trăm năm. Với những điển tích như “Văn Vương cầu hiền – Lã Vọng câu cá”,
“Bát tiên vượt biển”, rồi cả bộ tứ bình cổ nữa. Đúng như những gì mà anh đã kỳ
vọng và mong đợi.
Làm như vô tình, anh chỉ tay về phía cái tủ chè, hỏi:
- Mấy cái đồ sành sứ kia, thầy có bán không?
Dù cảm thấy thú vị với lời đề nghị đó, nhưng chủ nhà chỉ lắc
đầu, đáp:
- Những thứ ấy là do tổ tiên để lại. Tuy đã nhiều phen khốn khó,
nhưng tôi cũng không có ý định bán chúng bao giờ. Vả lại, xưa nay cũng chưa thấy
ai hỏi đến chuyện này cả.
Anh Thắm nhắp một ngụm chè xanh, nói:
- Những thứ này, nếu bỏ mấy chục ra chợ mua thì cũng được một
mớ. Chỉ vì đồ gốm ngày xưa người ta nung đốt cẩn thận, cho nên mới thấy quý đó
thôi!...
Như một thuyết khách lão luyện, anh Thắm chỉ đông nói tây, thao thao bất tuyệt thêm một chặp nữa. Chủ nhà ngồi nghe, gật gù, tay vân
vê mãi cụm lông nốt ruồi dưới cằm, có vẻ như đã xuôi tai.
- Hay là thế này! Thầy cho tôi xem qua một tẹo, rồi sẽ quyết
định sau có được không?...- Anh Thắm nhìn chủ nhà, nói.
Thầy Dương vui vẻ:
- Được! Được!...Mời anh cứ xem!...
Anh Thắm liền đứng lên, đi đến cái tủ chè kê ở gian giữa. Tại
đây, anh lựa được một cái bình gốm men lam có niên đại từ thời nhà Thanh, một cái
nậm rượu và hai đĩa cổ nữa. Chỉ tiếc là nậm rượu thì sứt một quai, còn một cái
đĩa nữa cũng bị mẻ mất một bên mép. Anh mang tất cả những thứ đó trở lại bàn và
bắt đầu ngồi đánh giá chúng một cách kỹ lưỡng. Cái nào cũng rất đẹp, cũng ánh
lên nước men và những hoa văn tinh xảo, cầu kỳ.
Anh Thắm lấy đầu ngón tay, búng nhẹ vào cái bình và nghiêng
tai để nghe những âm thanh “Boong…boong…” phát ra từ đấy. Cặp ria mép rung rinh,
động đậy, anh gật gù, như đang nói với chính mình:
- Cũng được! Họ làm cũng không đến nổi xuề xoà, cẩu thả cho lắm…
Vài phút sau, với một thái độ dứt khoát, anh ngẩng lên, nói với
chủ nhà:
- Những món đồ này tôi thấy hợp nhãn lắm. Tôi sẽ trả thầy tám
trăm nhé!...
Đôi mắt thầy Dương bất giác ánh lên một niềm vui khó tả. Ông
không nghĩ những món đồ của mình lại được người ta trả giá cao đến thế. Thầy ngồi
thẳng người lên, ngần ngừ. Những nếp nhăn ngoằn ngoèo trên trán hằn lại, sâu hoắm.
Có vẻ như ông đang suy nghĩ và tính toán rất lung.
Thấy mức tiền mà đối phương đưa ra cũng bằng cả tháng lương
giáo viên của mình, thầy đã có ý ưng. Dù mặt thộn ra đầy vẻ tiếc nuối, nhưng rồi
thầy tặc lưỡi:
- Thôi được! Tôi đồng ý bán cho anh!...
Dù sao thì đối với thầy, chừng ấy tiền cũng giúp cho gia đình
thêm vào để chi tiêu trong lúc khó khăn, túng thiếu này. Vả lại, để những thứ
đó trong nhà cũng chẳng ích chi, hằng ngày lại còn phải mất công lau chùi bụi bặm
nữa.
Dù mừng rỡ, nhưng anh Thắm vẫn làm ra vẻ lạnh lùng, không để
cho cảm xúc bộc lộ ra nét mặt. Sau khi đã cho mấy món đồ kia vào cái túi vải
mang theo, anh ngước nhìn mấy bức tranh khảm trai treo trên tường:
- Còn những thứ này thì sao?
Chủ nhà vội xua tay:
- Không!...Không!...Mấy bức tranh này thì tôi để treo cho đẹp.
Không bán đâu!
- Vâng!...Vâng! Là tôi chỉ hỏi vậy thôi! – Anh Thắm cười.
Khách thanh toán tiền, rồi bắt tay chủ nhà:
- Tạm biệt thầy!
- Chào anh! – Thầy Dương cũng vui vẻ bắt tay và nồng nhiệt vỗ
vỗ vào vai người khách trẻ.
o0o
Để đền đáp việc Sơn đã giúp mình mua được một món hời, anh Thắm
quyết định thưởng cho cậu một chuyến đi Hà Nội chơi.
Ngay chiều hôm ấy, anh nói với mẹ Sơn:
- Bây giờ đang nghỉ hè. Mợ cho em Sơn đi Hà Nội chơi với cháu
một chuyến nhé!?
Bà mẹ do dự:
- Nhưng đã gần hết hè. Em Sơn cũng sắp phải đi học rồi...
Anh Thắm vỗ vào vai Sơn đang đứng tò mò bên cạnh, nói:
- Mợ cứ yên tâm! Chỉ ra chơi ít ngày, rồi cháu lại đưa em về ngay
thôi!
Được mẹ đồng ý, Sơn vui lắm. Với một đứa trẻ mới học lớp năm,
lần đầu tiên được đi Hà Nội chơi, dĩ nhiên là cậu rất háo hức và thấp thỏm.
o0o
Ngồi trên ô tô, Sơn hướng mắt ra phía cửa xe, mãi mê ngắm
nhìn khung cảnh hai bên đường quốc lộ. Ngoài kia, những xe cộ, nhà cửa cứ vùn vụt
lướt qua mắt cậu như trong một cuốn phim. Dãy Trường Sơn xa mờ, in hình sống
trâu nổi bật lên nền trời, nối tiếp nhau tưởng chừng không bao giờ dứt.
Trên đường đi, anh Thắm bảo quản cái túi đựng đồ cổ như báu vật.
Anh sợ người ta vô tình đụng phải sẽ khiến cho chúng bị sứt mẻ. Mà nói đúng ra
thì còn hơn cả báu vật ấy chứ, đồ cổ kia mà.
Trong lúc ngủ gà ngủ gật, thi thoảng anh lại giật mình thảng
thốt. Sau khi ngơ ngác nhìn trước ngó sau, thấy không ai đụng đến cái bình của
mình, anh thở phào, rồi lại nhẹ nhàng đặt tay lên nó, như thể người ta đang vỗ
về, ôm ấp một đứa trẻ vậy.
Mãi đến gần 2 giờ chiều thì xe mới ra đến Hà Nội. Hai anh em thuê
xe xích lô để đi về nhà. Người xích lô nhiệt tình nhảy xuống, định xách cái túi
vải đặt lên xe, nhưng anh Thắm đã hốt hoảng ngăn lại:
- Ấy! Cẩn thận, kẻo vỡ!...
Rồi trước sự ngơ ngác của người xích lô, anh nhanh tay giằng
lấy cái túi, cẩn thận để nó ra đằng trước, ngay dưới chân mình. Anh ngồi lên ghế,
vòng tay đỡ lấy cái bình, ngăn không cho chạm vào thành xe. Trong suốt hành
trình, anh cứ giữ nguyên một tư thế như vậy, không lúc nào rời.
Nhìn thái độ kỳ quặc ấy của anh, người xích lô không khỏi tò
mò. Anh ta nhếch mép cười, hàng ria cong cong vểnh lên như chế nhạo:
- Cái gì trong túi mà ông anh “Nâng như nâng trứng, hứng như
hứng hoa” thế?
Anh Thắm tặc lưỡi, đáp cho qua chuyện:
- À! Đồ dễ vỡ ấy mà…
Người xích lô nghe thế thì cũng không còn thắc mắc gì thêm nữa,
chỉ tập trung vào việc lái xe. Ông cầm cái càng, vặn bên này, ngoặt bên nọ, cố
vượt lên một đám tắc đường đông nghịt ở ngay chỗ ngã tư đường.
Đường phố rất đông người và xe. Ô tô, xe máy, xích lô như mắc
cửi, mà nhiều nhất là xe đạp. Người xích lô vẫn rướn người trên bàn đạp, mồ hôi
mồ kê nhễ nhại. Chiếc mũ lưỡi trai đội sùm sụp trên đầu ông lệch hẳn đi, gần
như che kín một bên mắt. Từng giọt mồ hôi trên đầu sống mũi ông chảy xuống, nhỏ
tong tong xuống nền đường.
Xích lô rẽ vào một con
đường vắng và ít người hơn. Xe lần lượt đi qua một ngôi chùa, rồi một cái hồ lớn
trồng toàn cây liễu xanh tốt. Xích lô đỗ lại trước một dãy nhà tập thể, anh Thắm
thanh toán tiền, rồi hai anh em dắt nhau đi lên.
- Đến nơi rồi! – Anh Thắm dừng lại trước một căn phòng ở tầng
ba và giơ tay bấm chuông.
Cửa mở, khuôn mặt tò mò của anh Tình hiện ra. Vừa nhìn thấy
Sơn đứng lấp ló sau lưng em trai mình, anh cất giọng như reo:
- A! Sơn ra chơi hả? Cậu mợ ở quê khoẻ không em?
- Dạ khoẻ! – Sơn bẽn lẽn đáp.
Ngồi uống nước và nghỉ ngơi một lúc, anh Thắm lấy chiếc bình
ra để chuẩn bị mang đi cất.
Thấy cái bình đẹp, đứa cháu trai chừng dăm tuổi trố mắt lên
vì tò mò. Nó mon men đến gần, đòi:
- Chú Thắm cho cháu chơi cái kia!
Sợ cháu nghịch, anh trừng mắt lên, doạ:
- Không được! Cái này cấm cháu động vào. Nghe chửa!...
Đứa bé ngồi phịch xuống nền nhà, mếu máo:
- Chú phải cho cháu chơi cơ!...
Anh Tình mang khẩu súng nhựa ra, phỉnh con:
- Súng đây! Con mang ra bắn máy bay nhé!...
Đứa bé cầm súng chỉa lên trần nhà, đứng dạng chân, nheo mắt:
- Chéo…chéo….- Nó nhại theo tiếng súng một cách phấn khích.
Phút chốc đã quên hẳn chiếc bình cổ của chú Thắm.
Cái bình này kị nhất là trẻ con hiếu động. Anh Thắm quan sát
một lúc, rồi quyết định đặt nó lên nóc giá sách, sau khi đã chắc chắn là ngoài
tầm với của đứa cháu trai nghịch ngợm.
o0o
Sáng hôm sau, anh Thắm đèo Sơn đến nhà một người bạn hoạ sĩ
chơi. Anh mang cái nậm rượu và hai cái đĩa theo, còn chiếc bình thì vẫn để ở
nhà.
Đón họ là một thanh niên dong dỏng, tóc để dài và râu ria xồm
xoàm.
Ngay khi vừa gặp nhau, họ đã bận rộn và mãi mê với mấy món đồ
cổ mà anh Thắm mang đến. Họ ngồi xoài ra giữa nền nhà bừa bộn những giá vẽ và hộp
màu, cùng giơ cái đĩa cổ ra trước ngọn đèn mà ngắm nghía. Theo như anh Thắm giải
thích, đó là cách để họ quan sát và đánh giá độ bóng, mịn của nước men.
Anh hoạ sĩ lấy ra một cuốn sách dày, trong đó chụp rất nhiều
những hình mẫu có đánh ký hiệu. Dưới mỗi tấm hình lại có ghi chú tên gọi, niên
đại, chủng loại cổ vật. Hai người cúi đầu, chăm chú lật từng trang sách để so
sánh, đối chiếu. Giống như khi làm bất cứ công việc hệ trọng nào khác, khuôn mặt
của họ lúc này cũng hết sức nghiêm túc và tập trung.
Lát sau, hoạ sĩ chỉ tay vào một bức hình, nói:
- Đây rồi! Giống i sì phoóc nhé!...
Anh Thắm nheo mắt nhìn kỹ, rồi gật gù:
- Đúng rồi! Nhưng…có thể phục chế nguyên trạng được không?...
Anh hoạ sĩ gập cuốn sách lại:
- Yên tâm đi! Đảm bảo sẽ không khác gì nguyên mẫu!...
Anh Thắm để mấy đồ vật lại cho anh bạn hoạ sĩ rồi về. Trước khi
bước ra cửa, anh chần chừ một lúc, rồi gãi đầu gãi tai:
- Dù sao thì cổ vật vẫn chưa bán được. Cậu ứng trước cho mình
một ít để tiêu tạm, nhé!...
Chủ nhà ngớ người ra vài giây, rồi anh ta nhăn nhó, móc ví đếm
mấy tờ tiền đưa cho anh Thắm.
Hai anh em lại hào hứng đạp xe về nhà. Thực ra trong lòng anh
Thắm đã có tính toán cả rồi. Anh dự định là sẽ bán cái bình ở nhà cho một mối
khác lớn hơn. Nếu được giá, lần này anh sẽ trúng mánh lớn, có khi cả năm không
phải lo đến tiền ăn học ấy chứ.
o0o
Chú Thắm đi khỏi, bố mẹ cũng đã đi làm, giờ này chỉ còn mỗi
mình đứa bé ở nhà. Chơi một lúc đã chán, nó vứt đồ chơi ra khắp nhà rồi bắt đầu
tò mò nhìn lên cái bình của chú Thắm để trên nóc tủ. Cái bình cao lừng lững,
hoa văn sặc sỡ, khơi gợi trí óc khám phá của trẻ con. Nó lẫm chẫm tiến đến chỗ
chiếc bình, nhón chân, cố với tay lên nhưng không tới nơi. Loay hoay mất vài
phút, chợt trong đầu của nó nẩy ra một ý hay. Nó thò tay kéo cái ghế đẩu ra khỏi
gậm bàn và bắt đầu leo lên. Lần này thì được rồi, nó đã chạm được tay tới chiếc
bình mơ ước. Nhưng cái bình to và nặng, còn cánh tay nó thì nhỏ và yếu ớt, làm
sao mà nâng được bây giờ. Thế rồi chừng chút một, nó kiên nhẫn dùng bàn tay nhỏ
xíu để xô đẩy, chiếc bình cứ thế nhích dần, nhích dần ra phía mép tủ.
Rồi một tiếng “Choang…” rất lớn vang lên. Chiếc bình rơi xuống
nền nhà vỡ tan. Đứa bé cũng giật nảy mình, mặt mày tái xanh tái xám. Hoảng hồn,
nó ngồi bệt xuống ghế, sợ hãi khóc ré lên. Nhìn những mãnh vỡ vương vãi khắp nền
nhà, nó càng kinh hãi hơn. Sợ bị người lớn đánh mắng, nó chạy đến chỗ chiếc đi
văng, leo lên đó ngồi khóc. Một lúc, vừa mệt vừa sợ, nó nằm xuống và ngủ thiếp
đi.
o0o
Về đến khu tập thể, anh Thắm nhảy hai bước một lên cầu thang,
lòng những rộn ràng háo hức. Sơn đi ngay phía sau, mệt đến muốn đứt hơi mà vẫn
không tài nào theo kịp. Trong lúc tra chìa khoá vào ổ, anh Thắm vừa nhún nhẩy vừa
huýt sáo vang lừng.
Ngay khi cánh cửa vừa mở, anh Thắm bất ngờ đến mức nhảy dựng
cả người lên. Trước mắt anh là những mảnh gốm văng tung toé khắp nơi. Mắt trố
lên vì kinh ngạc, anh vội nhìn lên nóc tủ. Cái gì thế này? Chiếc bình đã không
còn ở trên đó nữa. Rồi ánh mắt anh lại hướng về phía chiếc đi văng, nơi đứa
cháu trai đang nằm trên đó ngủ ngon lành. Không còn nghi ngờ gì nữa. Đích thị
thủ phạm là đây rồi.
Trong cơn bấn loạn, anh ngồi thụp xuống, nhặt một mảnh vỡ của
chiếc bình, rồi kêu lên trong thảng thốt:
- Ôi! Chiếc bình quý của tôi. Báu vật của tôi! Sao lại nên cơ
sự này?...Trời hỡi trời?!...
