Thứ Hai, 4 tháng 1, 2016

Ngôi chùa cổ


Nền Văn hóa của một dân tộc vốn được biểu hiện dưới dạng 
Vật thể và Phi vật thể. Những giá trị hiện hữu như nhà cửa, kiến trúc, đồ vật thì gọi là vật thể, còn như âm nhạc, văn học, phong tục tập quán thì gọi là phi vật thể vậy. Nghiên cứu văn hóa, người ta sẽ biết được lịch sử dân tộc đó như thế nào, đời sống tinh thần ra làm sao. Cho nên, các giá trị văn hóa vẫn luôn được coi là quốc hồn quốc túy.

 Xa xưa, sau khi quốc gia này đánh bại quốc gia khác, họ mang các linh vật của dân tộc đó về nước. Làm như vậy, nền văn hóa đó coi như đã mất gốc, sẽ dễ bề bị đồng hóa. Vậy nên, song hành với việc bảo vệ lãnh thổ, dân tộc nào cũng phải bảo tồn nền văn hóa của mình, vì rằng “Văn hóa còn, dân tộc còn. Văn hóa mất, dân tộc mất”. Nước Việt ta bốn ngàn năm lịch sử, vì vậy mà văn hóa rất phát triển, cổ vật cũng nhiều.

 

Về sau, các nhân vật tiếng tăm hoặc tài phiệt thường có thú sưu tầm đồ cổ để trưng bày, như là một biểu tượng của sự thành công mỹ mãn. Vì rằng, tiền có thể kiếm được, còn báu vật thì vô giá. Cổ nhân nói quả không sai, phú quý thì sinh lễ nghĩa. Vì thế mới nảy sinh ra cái nạn buôn lậu đồ cổ. Đồ vật niên đại lâu càng có giá trị, dĩ nhiên là còn tùy thuộc vào mức độ tinh xảo và quý hiếm nữa. Các quốc gia đều đặt nạn buôn lậu đồ cổ ra ngoài vòng pháp luật, vì vậy mà người ta chỉ còn cách lấy cắp cổ vật mà thôi.

 

o0o

 

Ở làng Đạo Hạnh, có một ngôi chùa tên là “Linh Nghiệm”, xưa nay vốn nổi tiếng linh thiêng. Chùa nằm ở rìa thôn, có lối kiến trúc chữ Công, phía trước lại được án ngữ bởi cổng tam quan bề thế. Tuy to lớn như vậy, nhưng chùa chỉ có sư trụ trì và vài tăng ni, cho nên không thể nào trông coi cho xuể. Người ta đồn rằng, nơi đây lưu giữ một pho tượng phật, vốn là bảo vật quốc gia từ thời nhà Lý, ngoài ra còn có nhiều báu vật giá trị khác nữa.

 

Sở dĩ chùa có tên như thế, vì nếu ai mất đồ mà đến đây cầu khấn, thì bằng một cách nào đó, vật lại trở về với chủ cũ. Cứ như là có thần phật phù hộ vậy. Có bà kia đánh rơi cái nhẫn vàng gia truyền, hớt hải tìm kiếm khắp nơi nhưng vô vọng. Sau khi cúng ở chùa Linh Nghiệm về, một hôm trong khi làm vườn, tự nhiên bà thấy vật gì đó lấp lánh dưới luống khoai, nhìn kỹ thì hóa ra là cái nhẫn của mình. Bà mừng rỡ, rồi cứ thế đứng giữa vườn rau mà chắp tay bái tạ thần phật lia lịa. Nhà nọ cũng ở ngay trong làng, bị mất một con Trâu cày. Hai ông bà chủ buồn lắm, vì con Trâu là đầu cơ nghiệp của nhà nông mà. Tuy không có hy vọng gì, nhưng họ cũng bảo nhau sắm sanh lễ vật đến chùa Linh Nghiệm. Tối hôm sau, trong lúc cả nhà đang ngủ thì nghe nghe có tiếng chó sủa dồn dập phía chuồng Trâu. Hai ông bà vội cầm đèn ra soi thì thấy chú Trâu nhà mình bổng đâu như trên trời rơi xuống, đang đứng cọ cọ sừng vào chuồng mà đòi ăn. Chính vì những câu chuyện mang màu sắc huyền bí như vậy, cho nên chùa Linh nghiệm ngày càng trở nên nổi tiếng khắp nơi.

 

Trước vấn nạn mất cắp cổ vật nhiều như hiện nay, các cụ già ở thôn Đạo Hạnh cũng trăn trở lắm. Vì tầng lớp cao niên bao giờ cũng sốt sắng với công việc bảo tồn vốn cổ ông cha để lại. Các cụ họp với nhau, rồi bàn về việc thành lập một tổ canh gác, gọi là “Đội bảo vệ cổ vật”, gồm có mười thanh niên trai tráng. Đội này sẽ do cụ Phạm Tăng - một người nổi tiếng là mưu lược và có can đảm - phụ trách. Theo kế hoạch, ngày nào cũng sẽ có ít nhất vài ba thanh niên canh gác tại Chùa.

 

Hôm thành lập “Đội bảo vệ cổ vật”, dưới gốc cây đa cổ thụ trong sân chùa, ngay trước mặt sư cụ và toàn thể bà con thôn Đạo Hạnh, cụ Phạm Tăng dõng dạc tuyên bố:

 

- Thưa toàn thể bà con! Chùa Linh Nghiệm vốn gắn liền với lịch sử của thôn ta. Vì vậy, bảo vệ cổ vật của chùa cũng chính là bảo vệ văn hóa và lịch sử địa phương. Từ nay, chúng tôi tuyên bố thành lập “Đội bảo vệ cổ vật”, bao gồm có mười thành viên!…

 

o0o

 

Phía bên kia cánh đồng có một thôn gọi là Tây Sở, từ bên này có thể nghe được tiếng chuông gióng dả của chùa Linh nghiệm mỗi ngày. Trong thôn có hai tên trộm chuyên nghiệp là Sếu và Vạc. Sếu thì cao lêu đêu như cây sào, hai cẳng tay dài ngoẳng, mặt lúc nào cũng đỏ phừng như say rượu. Vạc tuy nhỏ con nhưng lanh lợi, chỉ cần người ta sơ ý, trong nháy mắt là hắn đã có thể thó được đồ rồi chuồn đi lúc nào chẳng ai hay. Cặp mắt hắn trắng dã, láo liên, rõ là phường gian manh. Chùa Linh Nghiệm ở ngay cạnh, lại có bảo vật quốc gia, dĩ nhiên là miếng mồi ngon của chúng. Sếu và Vạc đã để ý rình mò từ lâu, ngặt vì lúc nào chùa cũng có người canh gác nên chưa thể ra tay được. Dịp này, chúng bàn với nhau sẽ lấy trộm cổ vật ở chùa Linh Nghiệm để mà bán lấy tiền tiêu tết.

 

 Tại thôn Đạo Hạnh, lúc này cụ Phạm Tăng tập hợp “Đội bảo vệ cổ vật” và giao nhiệm vụ:

 

- Tháng này là tháng củ mật, bọn đạo chích cũng thường hoạt động mạnh vào dịp này. Cho nên chúng ta cần phải hết sức đề phòng. Đặt biệt là công tác bảo vệ chùa Linh Nghiệm. Từ nay, các anh trong “Đội bảo vệ cổ vật” không được rượu chè mà trễ nãi việc phòng bị, lúc nào cũng phải có người canh gác tại chùa. Khi phát hiện kẻ gian đột nhập, lập tức đánh kẻng báo động ngay!...

 

Tất cả đồng thanh hô: Rõ.

 

Nhận được mệnh lệnh, đội bảo vệ thường xuyên túc trực tại chùa, một phút một giây cũng không dám lơ là.

 

Hôm ấy là ngày hai sáu tết ta, một tay trong “Đội bảo vệ cổ vật” có thịt con lợn nhà để bán. Có rượu và đồ nhắm ngon, cả bọn bèn rủ nhau tập trung tại nhà tên này để mà ăn nhậu. Mặc dù có nhớ lời các bậc cao niên dặn, nhưng vì không thể cưỡng được cái thú đàn đúm, chúng đành nhắm mắt mà phá lệ. Tuy nhiên, chúng cũng cử một tên không biết uống rượu ra canh gác tại chùa. Để khỏi thiệt thòi, tên này cũng được đồng bọn mang cho một đĩa nhậu kèm với be rượu. Tiết trời hiu hiu, cảnh chùa lúc này thanh vắng không một bóng người. Buồn tình, hắn chui vào đống rơm mà rót rượu ra uống và nhắm với món lòng lợn. Vì tửu lượng thấp, uống được nửa be thì hắn liền lăn ra ngủ mê mệt, lại còn kéo rơm cẩn thận phủ kín người cho ấm.

 

Rình mò đã lâu, lúc này thấy chùa không có người gác như mọi hôm, Sếu và Vạc liền nhanh chân đột nhập vào. Sau khi đi qua dãy hành lang, chúng lẻn ngay vào trong chính điện. Lúc đầu, Vạc đứng ở cửa gác cho Sếu vào lấy. Sau rồi thấy không có ai, hắn cũng vào vơ vội được một cặp chân đèn.

 

Lấy trộm cổ vật xong, hai tên trộm vội vàng chuồn ra khỏi chùa, rồi nhảy qua con mương cạn để quay về làng. Sếu cầm trên tay bức tượng Phật nhỏ bằng đồng, hai con Nghê và một Lư hương cổ quý hiếm khác. Vạc vì đứng gác, lại vội vàng cho nên chỉ lấy được cặp chân đèn, chẳng hiểu có phải là đồ cổ hay không nữa. Rõ ràng là số đồ cổ mà Sếu lấy được có giá trị hơn rất nhiều.

 

Sợ có người đuổi theo nên Sếu thoăn thoắt đi trước, còn Vạc thì lầm lũi bước theo.

 

Thấy đồng bọn không đả động gì đến chuyện ăn chia, Vạc mặc cả:

 

- Tiền chia đôi đó nhé!

 

Lòng tham nổi lên, Sếu trả lời dấm dẳng:

 

- Của ai thì người đó bán lấy tiền! Không chia với chác gì cả!...

 

Nghe vậy, Vạc điên tiết nghĩ bụng “Mình canh gác cho nó vào lấy báu vật. Vậy mà bây giờ nó lại trở mặt. Đúng là đồ tham lam mà!”. Rồi không còn nhịn được nữa, hắn liền ném cặp chân đèn xuống ruộng, quát lên:

 

- Đừng có mà nuốt lời nhé! Có chịu chia không thì bảo?...

 

Sếu cũng trợn mắt:

 

- Không chia đấy! Mày làm được gì ông nào?

 

Rồi hắn cũng quẳng mấy món đồ vừa lấy được xuống chân ruộng, xông vào mà ẩu đả với Vạc. Cuộc chiến của lòng tham cứ thế diễn ra kịch liệt, bất phân thắng bại.

 

Lại nói về tên gác trong chùa. Lúc này vừa tỉnh rượu, hắn liền lóp ngóp bò dậy. Bất giác hắn thấy có hình thù gì đó chuyển động phía bên kia bờ mương như luyện võ. Sau khi dụi mắt để nhìn cho kỹ, hắn nhận ra có hai người đang đánh nhau chí tử bên đó. Nghi là có trộm, hắn liền lập tức đánh kẻng báo động. Thế là dân làng ùa ra, bắt trói được ngay cả Sếu và Vạc, trong khi hai tên này vẫn đang ôm nhau vật lộn mà không hay biết gì đến trời đất xung quanh cả.

 

o0o

 

Sếu và Vạc mình mẩy lấm lem bùn đất, cùng tang chứng vật chứng bị người ta đưa vào trong chùa, rồi giải ngay đến trước mặt sư cụ.

 

Nhìn hai tên trộm đang bị trói giật cánh khuỷa, sư cụ từ tốn hỏi:

 

- Mô Phật! Hai thí chủ ở đâu mà lạc vào Chùa ăn cắp bảo vật thế này? Thí chủ có biết làm như vậy là có hại cho quốc gia lắm không?

 

Sếu và Vạc sợ hãi muôn phần, quỳ xuống van lạy:

 

- Dạ! Chúng con trót dại. Xin sư cụ tha cho! Chúng con xin thề, từ nay sẽ không bao giờ dám làm như vậy nữa!...

 

Được người ta cấp báo, lúc này cụ Phạm Tăng đã hộc tốc có mặt. Cụ sốt sắng rẽ đám người hiếu kỳ đang vây quanh, bước vào tận bên trong để nhìn cho rõ mặt hai tên trộm.

 

Sau khi vểnh bộ râu dài kiêu dũng nhìn khắp một lượt, với một vẻ mặt không thể oai phong hơn, cụ Phạm Tăng thét lớn:

 

- Đội “Bảo vệ cổ vật” tập hợp!

 

Mười tên trong đội lập tức đứng sắp thành hàng ngang ngay ngắn.

 

Cụ Phạm Tăng nhanh nhẹn đi duyệt một lượt trước hàng quân, ra lệnh:

 

- Giải ngay hai tên trộm cổ vật này lên huyện. Cho chúng nó ở tù mọt gông, để từ nay không còn dám dòm ngó bảo vật quốc gia nữa mới thôi!

 

Cả đội dập chân đánh cộp, đồng thanh hô: “Rõ”.

 

Sư cụ bước đến trước mặt cụ Phạm Tăng, chắp tay mà rằng:

 

- Mô Phật! Tham, sân, si vốn là tật xấu của chúng sinh. Đức Phật vẫn luôn mở rộng cửa từ bi, hướng người ta đến cõi thiện. Nhà Chùa ghi nhận công lao của cụ Phạm Tăng cũng như “Đội bảo vệ cổ vật” đây, nhưng xin các vị hãy từ tâm mà tha thứ cho hai kẻ lỗi lầm. Vì xem ra chúng cũng là người biết phục thiện, lại đã trao trả đầy đủ cổ vật, chưa có thất thoát gì. Đừng giải lên Công An để họ phải ngồi tù mà tội nghiệp. Xin các vị hãy nể tình bần tăng! Mô Phật!

 

Nghe sư cụ nói thế, cụ Phạm Tăng đành phải quyết định tha cho hai tên trộm, mặc dù trong lòng vẫn còn hậm hực lắm. Sếu và Vạc thì quá đổi vui mừng, bấy giờ chúng chỉ còn biết nước mắt ròng ròng mà vái lạy sư cụ như tế sao.

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015

Mùa Xuân đang đến gần


     

    Đã gần đến tết nguyên đán, vậy mà năm nay trời vẫn còn rét dữ. Tuy thức giấc từ lâu, nhưng ông Vương vẫn còn nằm nán trong chăn ấm một lúc để lắng nghe tiếng sương rơi lộp bộp và gió rít nhẹ ngoài mái hiên. Bữa nay là tết ông Táo, ông cần phải dậy sớm hơn thường lệ. Với tay lấy chiếc áo dạ khoác lên người, rồi trong khi vẫn còn xuýt xoa vì lạnh, ông đi ra mở cửa.


    Cánh cửa rít lên kẽo kẹt, bên ngoài trời cũng vừa sáng rõ. Một cơn gió lạnh bất giác ùa vào, ông khẽ rùng mình, rồi đưa tay cài vội hàng khuy áo trước ngực. Đêm qua sương giá, đám cây trước sân cành lá hắt hiu, nhưng chúng vẫn âm thầm nhẫn nại, chờ đợi cái thời tiết ấm áp của mùa xuân sắp tới để mà đâm chồi nẩy lộc.

 

     Thấy chủ thức dậy, chú chó nhỏ ngoáy tít cái đuôi ngắn cũn mà lon ton quấn theo dưới chân. Một lúc lạnh quá, nó lại chui vào cái ổ rơm ở góc thềm để nằm cho ấm. Tuy vậy, đôi mắt long lanh như hai hạt nhãn của nó vẫn linh động dõi theo từng cử động của chủ. Ông Vương chậm rãi đi ra vườn, dừng lại dưới gốc cây Quýt  ngắm nghía hồi lâu. Những quả Quýt chín cây đỏ mọng, sà xuống nặng trĩu. Sương sớm còn đọng trên cành, khiến cho bàn tay lạnh buốt khi chạm vào. Ông nâng niu, rồi chọn cắt được vài cành Quýt đẹp để bày lên ban thờ. Vừa làm ông vừa nhẩm tính những món đồ sẽ mua, vì chút nữa đây ông còn phải ra chợ để sắm sửa mọi thứ cho lễ tiễn đưa ông Táo về trời.

 

     Đã ba năm nay, kể từ ngày người vợ hiền mất đi, ông Vương sống ở đây một mình. Các con ông thì đều đã trưởng thành cả. Anh con trai đầu làm ăn và sinh sống ở Châu Âu. Cô gái út đã lấy chồng và đi dạy trong huyện, nhà chồng cũng chỉ cách đây vài cây số. Anh con trai gọi điện về cho biết, bên Tây không có tết nguyên đán như ở ta, cũng chẳng cúng ông Táo gì cả, cho nên thấy nhớ quê lắm. Ông nhắn lại rằng, nếu thấy nhớ quê, ở bên đó cũng có thể duy trì phong tục cha ông được, miễn là có lòng thành. Cô con gái thi thoảng ghé thăm bố, rồi lại vội vàng về lo công việc nhà chồng. Ông không trách con, vì cũng phải thôi, nó còn bận bịu con cái nhà cửa mà. Nhiều lần,, vợ chồng cô khẩn khoản mời bố về sống chung để họ chăm sóc, nhưng ông không chịu, vì không muốn làm phiền con cháu. Những lúc thương con nhớ cháu, có mấy đứa cháu ngoại đến chơi, kể cũng đã vui cửa vui nhà rồi.

 

     Ngôi chợ họp ở rìa làng, hôm nay cũng nhộn nhịp hơn ngày thường. Vì là mua đồ thờ cúng, ai cũng muốn tranh thủ đi sớm để còn chọn được những thức đẹp và tốt nhất.

 

     Thấy ông Vương xách làn đi tới, bà bán trái cây mập ú ở cổng chợ liền đon đả:

 

     - Mời bác mua Bưởi thờ đây! Trái đẹp lắm bác ạ, có cả cuống lá hẳn hoi nhé!

 

     Ông Vương chọn mua một trái bưởi tròn, vỏ láng mịn, rồi lại thong thả đi vào bên trong chợ. Khi các thức mua đã tạm đủ, ông ghé qua chỗ bán vàng mã, mua đủ ba bộ trang phục, hia và mũ cánh chuồn cho ông bà táo quân. Cuối cùng là hàng cá chép, theo phong tục thì đây là phương tiện để ông Táo cưỡi về trời. Người ta đặt những chậu nước thành hàng dài, bên trong thì cơ man nào là cá chép đang bơi. Ông Vương dừng lại ở một hàng ưng ý nhất để chọn mua. Ra giá xong, cô bán hàng thoăn thoắt đổ nước vào cái bao nilon trong suốt, rồi thả chú cá chép vảy vàng óng ánh vào trong đó.

 

     Về đến nhà, việc đầu tiên là ông mang cây Nêu mà mình đã kỳ công chuẩn bị cả ngày hôm qua ra dựng trước sân. Ông cầm cây thuổng, hì hục đào một lỗ đủ sâu và vừa vặn. Dựng xong cây nêu, người ông đã nóng ran, mồ hôi lấm chấm trên trán. Ngọn nêu vươn lên trời xanh, lá cờ đuôi nheo phất phơ trong gió nhẹ. Cứ thế, cây Nêu sẽ đứng ở đây cho đến tận ngày mùng bảy tháng giêng năm sau.

 

     Hồi còn nhỏ, ông từng được bố kể cho nghe về tục dựng cây Nêu và tết ông Táo. Ông ngồi xếp bằng, cái miệng ngây thơ há hốc như nuốt từng lời của bố: “…Theo phong tục dân gian, cứ đến ngày hai ba tháng chạp hằng năm, ông Táo lại cưỡi cá Chép vàng lên trời. Ông sẽ báo cáo với Thượng Đế những điều mắt thấy tai nghe ở trần gian trong năm qua. Chuyện bếp núc của gia chủ, chuyện công ăn việc làm …”.

 

     Trong đầu óc non nớt của ông hồi ấy, hình ảnh ông Táo cưỡi cá Chép về trời luôn hiện lên với một vẻ lung linh, huyền ảo. Hồi xưa, ông cũng lăng xăng xem mẹ làm mâm cơm cúng ông Táo, xem bố dựng cây nêu và đọc văn tế. Ngày hạ Nêu, buổi sáng thức dậy, cậu bé Vương lại nhủ thầm trong bụng rằng, giờ này chắc là ông Táo đã xuống hạ dưới và ở trong căn bếp nhà mình rồi. Từ khi có gia đình, năm nào ông cũng cúng ông Táo đầy đủ, phần tưởng nhớ kỷ niệm tuổi thơ, phần để duy trì phong tục cho con cháu.

 

     Đang ngồi rửa trái cây chỗ vòi nước, chợt ông nghe có tiếng mở cổng lách cách. Cô con gái đang dắt xe đi vào. Cô dựng xe vào góc sân, rồi bắt đầu quét dọn sân vời, nhà cửa giúp bố.

 

     Vừa khua cái chổi rơm sột soạt xuống nền gạch, cô vừa nói với bố:

 

     - Tết này bố sang nhà con ăn tết nhé! Khỏi phải mua sắm một mình vất vả bố ạ! Năm nay, anh cả con cũng không về được đâu!...

 

     Ông chống tay vào đầu gối, mệt nhọc đứng lên:

 

     - Bố cứ đón tết ở nhà thôi! Đã quen như vậy rồi! Còn phải hương hỏa thờ cúng tổ tiên và mẹ con nữa chứ.

 

     Biết không thể thuyết phục được bố, cô thở dài rồi lại tiếp tục quét dọn. Tính ông là vậy, luôn nghĩ và làm theo những gì mà mình cho là đúng, không ai lay chuyển được. Một lúc thì công việc quét dọn xong xuôi, cô chào bố rồi lặng lẽ ra về.

 

     Còn lại một mình, ông Vương đi sắp bánh trái và đồ vàng mã lên ban thờ với tất cả vẻ thành kính tự đáy lòng. Bánh trái thì ông chia làm hai, một đĩa đặt nơi ban thờ ông Táo trong nhà, đĩa kia ở ban thờ Thổ Thần trước sân.

 

      Bây giờ mới đến phần quan trọng nhất, làm mâm cỗ để cúng ông Táo. Giờ này đã có tuổi, đầu óc chẳng còn minh mẫn, ông phải bần thần mất một lúc mới định hình được công việc. Gì chứ cái món chè kho và đĩa thịt luộc thì không thể thiếu, rồi thêm đĩa giò và mấy món khác nữa. Cái cảm giác khi làm một mâm cơm cúng thật khác thường, người ta gửi gắm vào đó tất cả sự thành tâm, mọi thứ lại phải vẹn nguyên, đẹp đẽ. Thức gì cũng vậy, trước để cúng tế tổ tiên, sau là thần linh chứng giám, cuối cùng thì con người mới được thụ lộc.

 

      Gian bếp quen thuộc lại khiến ông nhớ đến bà, người vợ tần tảo đã cùng mình sẻ chia bao sướng khổ, buồn vui cuộc đời. Khi còn sống, từ việc đi chợ cho đến làm cỗ cúng ông Táo đều do một tay bà đảm đương cả. Với tất cả vẻ tài khéo của một người phụ nữ đảm đang, mâm cỗ bà làm bao giờ cũng đẹp, cũng ngon. Giờ đây, chỉ còn một mình ông đang thui thủi trong gian bếp. Nghĩ đến đây, bất giác ông cảm thấy bồi hồi trong lòng.

 

     Hơi nước trong chiếc nồi bốc lên ngùn ngụt, cho biết là miếng thịt đã chín. Ông vội vàng mở nắp vung, rồi gắp bỏ thịt ra đĩa.

 

     Một lúc sau, ông Vương hài lòng đứng nhìn mâm cỗ đã hoàn tất đặt ngay ngắn trên ban thờ. Đoạn ông đi pha ấm chè sen và rót rượu ra mấy cái chén lưu ly màu xanh ngọc. Trong khói hương trầm thơm ngát lan tỏa khắp căn nhà, chủ nhân bắt đầu cúng tế.

 

     Không gian lãng đãng êm ru, thời gian như ngưng đọng. Cái sắc màu bàng bạc của mây trời xen lẫn hơi sương, khiến cho cảnh vật bổng trở nên sáng loá.

 

      Lúc này, ông Vương lại ra đứng chắp tay trước ban thờ Thổ Thần, bắt đầu cất giọng đều đều, nghe như gần như xa:

 

…Đông trù tư mệnh

Táo Phủ thần Quân

Giáng lâm trước án

Phong theo lệ cũ

Ngài là vị chủ

Ngũ tự gia thần

Soi xét lòng trần

Táo Quân chứng giám…

Ban lộc ban phước

Phù hộ toàn gia

Trai, gái, trẻ, già

An ninh khang thái.

Dãi tấm lòng thành

Cúi xin chứng giám

Cẩn cáo!

 

     Góc sân chỗ ban thờ Thổ Thần được ông chọn làm nơi hóa vàng. Ngọn lửa bùng lên nhảy múa, hơi nóng lan tỏa, đẩy đưa tàn giấy bay xa theo làn khói mỏng.

 

     Đã xong mọi thủ tục cần thiết, bây giờ là lúc ông Táo phải xuất hành. Ông Vương mang chú cá chép ra chỗ cái ao ở góc vườn để thả. Trong tiết trời cuối đông, cây hoa Đào bên bờ ao hé những nụ hoa chúm chím, báo hiệu mùa Xuân đang đến gần. Đằm mình dưới làn nước ao, chú cá chép quẫy đuôi tung tăng uốn lượn, vẽ lên những cung đường long lanh mềm mại. Lát nữa đây, cái mình mẩy óng ánh những vây kia sẽ hóa rồng, để mà đưa ông Táo về trời bẩm cáo cùng Thượng Đế.


Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

Khu Tập Thể

     
  Từ ngoài đường cao tốc, người ta đã có thể nhìn thấy tòa nhà năm tầng màu vàng của công ty Bản đồ địa chính nổi lên như một pháo đài cũ kỹ. Cái bể nước lớn được xây trên nóc, trông xa giống như một tháp canh xù xì đang án ngữ. Hình ảnh đó gợi về một cái gì quá vãng, vốn là chứng tích của thời gian hoặc do chưa bắt kịp với nhịp sống thời đại. Tuy chỉ cách Hà Nội chừng bốn mươi cây số và gần đường cao tốc như vậy, nhưng ở đây là một thế giới khép kín, dường như ít bị ảnh hưởng bởi cuộc sống ồn ào bên ngoài. Khuôn viên được ngăn cách với xung quanh bởi những bức tường xây đã có nhiều mảng vữa bong tróc, để lộ ra lớp xỉ và gạch màu nâu đỏ bên trong. Phía sau là một cái ao rộng, ở đó mọc đầy những bụi chuối ken sát, um tùm. Khu tập thể là hai dãy nhà cấp bốn được bố trí theo hình chữ L, với khoảng vài chục căn phòng ngăn ra đều nhau. Ngoài ra còn có thêm một dãy nhà hai tầng, mặt hướng ra phía sân sau của công ty. Từ đây có thể nhìn thấy cái sân bóng chuyền, nơi mà mọi người thường tập trung chơi bóng sau mỗi giờ làm việc. Những lúc như vậy, tiếng đánh bóng lộp bộp, tiếng hò hét lại rộ lên ầm ĩ cả khu vực. Bấy giờ đã là năm 2004, nhưng nếp sinh hoạt của cơ quan thì vẫn mang hơi hướng của những năm 1990 trở về trước.

 

     Sau bữa cơm chiều, mấy chú lớn tuổi thường ra đứng ở chân cầu thang dãy nhà hai tầng để tán gẫu một lúc. Đến khi nhập nhoạng tối, mới ai chịu về phòng nấy để nghỉ ngơi. Phòng của Phương ở ngay cạnh, vì vậy mà lắm lúc vô tình anh cũng bị lôi cuốn vào những câu chuyện không đầu không cuối của họ. Mấy bữa nay có một sự kiện làm khuấy động nhịp sống vốn yên bình của khu tập thể, ấy là chuyện hai cô gái trẻ và một cô thực tập sinh nữa mới về công ty làm việc. Dĩ nhiên rồi, lập tức tin này cũng không thể thiếu trong những cuộc tán gẫu của các bậc cao niên.

 

     Hôm nay như thường lệ, họ lại đứng tập trung ở chân cầu thang để mà tán gẫu.

 

     Vốn là người hay khơi mào, chú Hùng e hèm lên một tiếng rõ to, đoạn cất giọng châm biếm:

 

     - Ối dào! Cái cô Thu thực tập xinh thì có xinh thật. Nhưng đời thủa nhà ai, trước mặt các bậc cha chú như chúng ta mà cô ấy chỉ mặc mỗi cái quần short ngắn lên tận đây - Nói rồi chú đưa tay vạch ngang chỗ đùi gần bẹn, áng chừng độ ngắn của cái quần.

 

     Những tiếng cười lập tức nổi lên như một cơn mưa rào mùa hạ. Có người thú quá cười sặc sụa, đến nổi chảy cả nước mắt nước mũi.

 

     Chú Sơn kế toán dáng người cao lêu đêu, cố gắng nhịn cười, rồi chỉ vào cái bậc thềm, phụ họa:

 

     - Hôm qua tôi còn thấy nó mặc quần short, ngồi trên xe máy rồi phóng thẳng lên thềm. Ngay chỗ kia kìa. Chậc! Con gái thời nay thực là!...

 

     Mọi người lại được thêm một trận cười sảng khoái nữa.

 

      - Còn cái cô Hờ…gì đó thì ngoan đáo để! - Chú Toàn phòng máy vân vê bộ ria hung hung, nói chen vào.

 

 

     - Hằng! - Chú Sơn nhắc.

 

     - Phải rồi! Hằng. Cô bé cứ thấy tôi là chào từ đằng xa nhé. Mau miệng lắm!

 

     Nhìn sang, thấy Phương còn đang ngơ ngác, chú nheo nheo con mắt, giọng nửa đùa nửa thật:

 

     - Xem chừng mấy cô gái mới về cũng được đấy! Chú mày nên chọn lấy một cô đi. Cũng đến tuổi lập gia đình rồi. Có an cư thì mới lạc nghiệp được cháu ạ!...

 

     Mỗi người tán vào một câu, ai cũng tỏ vẻ đồng tình cả. Phương chỉ cười bẽn lẽn, rồi vì cảm thấy xấu hổ, anh lặng lẽ bỏ về phòng mình.

 

o0o

 

     Khu vực cơ quan có hai lối vào, cổng chính ở ngay nhà làm việc, cổng phụ dành cho khu tập thể thì ở phía sau. Cứ hết giờ hành chính thì chú Cẩn bảo vệ lại khóa cánh cổng lớn lại, từ lúc này mọi người chỉ có thể ra vào vào bằng lối cổng xép mà thôi. Tuy sắp đến tuổi nghỉ hưu, nhưng nom chú Cẩn hãy còn nhanh nhẹn và tráng kiện lắm. Có được sức khoẻ tốt như vậy, cũng là nhờ chú thường xuyên luyện tập thể thao và có lối sinh hoạt chăm chỉ, điều độ. Người chú thấp đậm nhưng rắn chắc, khuôn mặt luôn tươi cười mỗi khi bắt gặp người đối diện. Phòng trực của chú nằm ở trước cổng, dưới gốc cây hoa gạo nở hoa đỏ chót. Ban ngày quán xuyến việc cơ quan, tối đến thì chú lại ra đây để trực bảo vệ.

 

     Cuối khu tập thể, cạnh bức tường bao là nơi người ta treo cái kẻng được làm bằng vỏ một quả bom B52 từ thời chiến tranh. Cứ đầu giờ hay kết thúc buổi làm việc là chú Cẩn lại cầm theo cái búa mà thủng thẳng đi ra chỗ đó. Một tay bịt tai, tay kia chú gõ một hồi kẻng dài để báo hiệu. Mỗi lần như thế, mặt chú nhăn nhó đến khổ sở, vì cái âm thanh lớn và chát chúa kia chẳng hề dễ chịu một chút nào. Nghe tiếng kẻng, mọi người lại lục tục đi làm hoặc chuẩn bị ra về. Cái nhịp sống đó cứ thế kéo dài đều đặn, miên man.

 

     - Phương ơi! Đi ăn cơm!...

 

     - Phương ơi!...

 

     Tiếng mấy chú ở tầng trên đi ngang qua gọi Phương í ới. Anh vội vàng đóng cửa phòng rồi cũng nhanh chân rảo bước theo họ. Nhà ăn cũng chỉ cách chỗ ở có vài chục bước chân. Người ta chọn một gian cuối cùng của dãy nhà cấp bốn để làm phòng ăn cho những người nội trú. Ở đây vừa kín đáo, vừa thuận tiện cho việc đi lại. Người phụ trách nấu bếp là chị Tú, vốn là y tá của công ty. Dĩ nhiên rồi, đã là đầu bếp thì nấu ăn phải ngon, tác phong lại phải nhanh nhẹn. Những tiêu chí ấy chị Tú đều đáp ứng được cả.

 

     Tiếng bát đũa va vào nhau lách cách, tiếng chào mời rộ lên một lúc rồi ai nấy bắt đầu ngồi vào bàn ăn. Vẫn là những khuôn mặt quen thuộc, vì hằng ngày mọi người đều ngồi ăn chung với nhau. Chú Sơn năm nay sắp nghỉ hưu, vì mấy cái răng đau mà chú hơi có phần khó tính trong chuyện ăn uống. Thường ngày, chú vẫn là người phê phán nhiều nhất những món ăn do chị Tú nấu.

 

     Chị Tú bê cái liễn, vừa tiếp thêm cơm vừa tươi cười:

 

     - Thế nào? Mọi người thấy thức ăn hôm nay có vừa miệng không?

 

     Chú Sơn lấy cây đũa gõ vào đĩa thịt trước mặt, bĩu môi:

 

     - Cái món thịt hôm nay nấu dở quá. Đã nhạt lại còn cứng queo!

 

     Như giọt nước làm tràn ly, chị Tú đặt mạnh cái môi xuống bàn nghe đánh keng một tiếng, đoạn chống nạnh mà quắc mắt lên:

 

     - Muốn ngon thì về bảo vợ nó nấu cho! Ở đây chỉ được thế thôi! Không ai đi hầu ông như ở nhà đâu nhé!...

 

     Bị mắng té tát, chú Sơn buông đũa mà giận dỗi bỏ về phòng. Cho dù hết người này đến người khác lên gọi chú cũng không chịu xuống ăn tiếp nữa.

 

o0o

 

       Bữa nay là chủ nhật, những người độc thân đều đã về nhà cả, khu nội trú lúc này chỉ còn trơ lại mấy hộ gia đình. Tuần này Phương ở lại cơ quan mà không về Hà Nội. Tranh thủ ngày nghỉ, anh bèn mang chiếc quạt điện hỏng đi sửa.

 

     Mãi rồi cũng nhìn thấy một gian hàng điện máy để ghé vào.

 

     - Hình như anh không phải là người địa phương thì phải? – Người thợ sửa quạt nhìn Phương, tò mò hỏi.

 

     - Anh đoán đúng! Tôi làm trong công ty đo đạc – Phương đáp.

 

     - Thật thế ư?! – Anh ta kêu lên thú vị. Đoạn nói thêm – Vợ chồng tôi trước đây cũng làm ở trong đó đấy. Nhưng bây giờ thì xin nghỉ tiêu chuẩn rồi.

 

     Đến lượt Phương ngạc nhiên. Anh nói:

 

     - Nghề đo đạc thường phải đi nhiều. Vợ chồng cũng vì thế mà xa cách. Lựa chọn sự đoàn viên cũng là một cách hay!

 

     - Anh nói phải! – Người vợ xinh đẹp ngồi cạnh cũng tán đồng.

 

     Phương hẹn chủ quán chút nữa sẽ quay lại lấy, rồi tranh thủ chạy xe ra thị trấn một lúc. Sau khi ghé bưu điện gửi mấy gói bưu phẩm cho công ty, anh lại ra chợ mua thêm vài thứ đồ dùng lặt vặt nữa.


     Lúc quay lại hàng quạt, người thợ nhìn Phương, tươi cười:

 

     - Của anh xong rồi đó!

 

     Phương cảm ơn và trả tiền. Người chủ quán lởi xởi:

 

     - Lúc nào rảnh thì mời anh lại chơi!

 

     - Cảm ơn anh!

 

   Về đến phòng, nhìn đồng hồ thấy mới tám giờ rưỡi, Phương bèn đi xuống nhà chị Tú để chơi cờ vua một lúc. Chị Tú chơi cờ vua khá giỏi, ở cơ quan này chị chỉ đánh thua mỗi mình Phương mà thôi. Cũng vì thế mà chị thích chơi với anh. Chị nói rằng, chơi cờ với người giỏi hơn mới nâng cao được cái trình độ và khả năng của mình. Dù sao đi nữa, gặp được một đối thủ cầu tiến như vậy, kể cũng thú vị lắm!

o0o

 

     Bây giờ đã là cuối xuân, cây gạo cổ thụ trước cổng cơ quan lại trổ hoa như thắp lửa. Tán nó tỏa rộng lên cả cái phòng trực của chú Cẩn, hoa rụng xuống, khiến cho khoảng sân phía dưới lấm tấm như một tấm thảm đỏ. Vậy là thấm thoắt Phương đã về đây làm việc được một năm rồi. Còn nhớ năm ngoái, khi anh đến đây cũng vào khoảng vào thời gian này, cây hoa gạo lúc đó cũng nở đỏ chói cả một góc trời.