Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2025

Thạch Thảo tím

        

   Giờ giải lao, giảng đường tầng ba đại học Luật. Ánh sáng từ những ngọn đèn neol sáng rỡ soi rõ khắp căn phòng, phản chiếu lấp loá xuống những bức tường màu hoàng yến và khung cửa kính trong suốt phía dưới. Dù vô tình hay hữu ý, hình ảnh đó cũng gây cho người ta ấn tượng về một lối kiến trúc đột phá, vừa trang trọng vừa có vẻ gì đó tân thời. Trên tấm bảng đen cạnh bục giảng, những dòng chữ chi chít và mũi tên chỉ dẫn sơ đồ từ tiết học trước hẵng còn đó, giờ này vẫn còn chưa kịp xoá đi. Kim đồng hồ treo tường chỉ 9 giờ 15 phút. Ở ngay hàng ghế đầu, Lý toác – anh chàng hoạt náo viên của lớp - đang vung tay nói thao thao những gì với mấy người xung quanh với một vẻ hào hứng ra mặt. Chẳng hiểu cậu ta nói gì, nhưng khi vừa dứt lời thì những tiếng vỗ tay và la hét lập tức vang lên như sấm dậy. Nhiều ánh mắt tò mò hướng về phía ấy để xem có truyện gì xẩy ra, số khác thì vẫn điềm nhiên ngồi xem sách. Thời gian nghỉ, người ta tha hồ làm việc riêng, kẻ tán chuyện, người thì xem lại bài học, một số còn đứng lên để tranh thủ đi ra ngoài một lúc. Lớp học gần cả trăm người, thế nhưng căn phòng cũng đủ rộng để khiến cho mọi người cảm thấy thoải mái mà không hề có cảm giác bức bối, chật chội. Trên cao, những chiếc quạt trần vẫn không ngừng xoay tít, phần phật phả xuống phía dưới luồng không khí mát mẻ, giúp xua đi phần nào cái tiết trời oi ả và nóng bức buổi đầu hè.

Trong một góc phòng ở gần cửa sổ, Phong đang ngồi suy nghĩ vẩn vơ. Vẻ mặt bần thần, anh lặng lẽ quay nhìn ra cửa kính. Phía bên kia là toà nhà của cơ quan khí tượng thuỷ văn. Sau những cánh cửa chớp màu xanh xanh, Phong nhìn thấy các nhân viên đang hối hả ra vào không ngớt. Ở đó, chuông điện thoại thi thoảng lại reo lên và tiếng máy in lẹt xẹt vẫn vọng sang đều đặn. Từ phía cuối dãy tầng trệt, một phụ nữ mảnh mai, áo khoác màu xanh lơ đang cầm theo quả bóng thám không đi ra khoảng sân rộng trước mặt. Chị ta dừng lại trước trạm quan trắc, đứng yên ở đấy một lúc, rồi từ từ ngước mắt lên và bắt đầu thả quả bóng lên trời. Quả bóng màu trắng đục, mang theo dụng cụ đo thời tiết lơ lửng bay lên, nom như một quả bóng bay khổng lồ in dấu trên nền trời xanh thẳm. Với Phong, cảnh ấy đã trở nên quen thuộc, hầu như ngày nào cũng thế, như một cuốn phim cứ xem đi xem lại.

Ngồi cạnh bên, thấy Phong cứ chống cằm nhìn ra cửa sổ như một anh chàng thi sĩ, Hoài bất giác mỉm cười tò mò.

- Này!...Nghỉ hè cậu có về quê không đấy? - Hoài hích nhẹ khuỷu tay vào người Phong, khẽ hỏi.

Phong chuyển ánh mắt vào trong, nhìn Hoài trầm ngâm:

- Có lẽ là không!… Mà mình cũng không biết nữa?…

- Sao lại có lẽ. Phải chắc chắn chứ? Tớ thì hễ thi xong học phần là về ngay. Năm nay lớp cũ cấp ba gặp mặt. Bọn tớ đã hẹn nhau rồi, cả mấy đứa ở tận trong nam cũng về được cơ đấy – Hoài nói với một giọng hứng khởi.

Phong ngồi im lặng, không phản đối cũng chẳng ra đồng tình. Hè này, anh muốn ở lại Hà Nội để học thêm ngoại ngữ và đăng ký một lớp học võ. Đó là những dự định tâm huyết mà anh đã muốn thực hiện từ lâu. Trong thâm tâm, giống như Hoài, anh cũng muốn nghỉ hè sẽ về quê để được gặp gỡ gia đình và bạn bè. Thế nhưng về hay ở, giờ này anh vẫn còn đang phân vân mà chưa thể quyết bề nào.

Từ phía khung cửa ngập nắng, Phong nhìn thấy Hải đang tất tả đi vào. Hải đẹp trai, dáng người dong dỏng, nổi bật trong chiếc áo kẻ ca rô xanh đỏ. Đến giữa lớp, cậu dừng lại, nghiêng đầu quan sát vài giây rồi bước nhanh về phía anh đang ngồi.

- Cậu có thư đây! – Hải nói và chìa cho Phong bức thư, trên tay vẫn còn cầm một bức thư khác nữa.

- Cảm ơn cậu! – Phong gật đầu, đáp.

Phong và Hải chơi thân với nhau, lại ở cùng phòng ký túc xá. Vì quê ở tận Hà Tĩnh, nên Hải rất mong thư nhà gửi ra. Mỗi sáng đầu tuần, cậu đều đến văn phòng trường để lấy thư, tiện tay nếu thấy có thư của anh thì sẽ cầm hộ luôn một thể. Từ giảng đường đi xuống chỗ lấy thư cũng phải mất mấy phút, thế nhưng không vì thế mà làm giảm đi nhiệt huyết của Hải. Với cậu, nhu cầu thông tin cũng rất quan trọng, thậm chí là chẳng kém gì so với việc học cả. Từ bưu điện, thư sẽ được người ta chuyển về văn phòng trường. Thường thì lớp phó Kim Anh sẽ đến đây lấy thư, sau đó mang về phát cho lớp. Tuy nhiên, những người khác cũng có thể nhận thư, với điều kiện là họ phải xuất trình cho người trực văn phòng tấm thẻ sinh viên có gắn ảnh chụp của mình.

Đưa thư xong thì Hải quay trở về chỗ ngồi, mở lá thư của mình ra và bắt đầu chăm chú đọc.

Phong cúi xuống, nhìn lướt qua phong bì và nhận ra ngay nét chữ quen thuộc của Kiều Loan. “Thư của nàng!” – Anh thoáng nghĩ và bất giác thấy tim mình đập loạn nhịp. Mong thư nàng đã lâu, vậy mà mãi giờ này anh mới nhận được. Để thư không bị rách mép, anh nhẹ nhàng lần ngón tay dọc theo mép dán và cẩn thận mở chiếc phong bì ra. Một bức hình ép plastic rơi xuống mặt bàn. Phong cầm lên xem, nhưng vì ánh sáng từ phía cửa sổ chiếu vào loá mắt, khiến anh phải xoay vào trong để nhìn cho rõ. Bức hình chụp Kiều Loan đang ngồi trước biển. Sau lưng là những con sóng bọt tung trắng xoá. Đôi mắt nàng mở to và hướng về chốn xa xăm, nom buồn và cô đơn.

- Cô nàng nào mà xinh thế? Người yêu hả? – Hoài nhìn dán vào bức hình, tò mò hỏi.

- Không! Chỉ là bạn thôi! – Phong nói dối và bất giác đỏ mặt.

Qua thái độ của Phong, Hoài cũng đã đoán được phần nào. Tuy vậy, để tôn trọng sự riêng tư của bạn, anh cũng không hỏi gì thêm nữa, chỉ quay sang và bắt đầu giở sách ra học.

Bức ảnh đã khiến cho những hồi ức chợt ùa về với Phong như những con sóng xô bờ. Cái bóng hình mà hằng ngày anh vẫn mong nhớ ấy giờ này đang ở đây, ngay trước mắt anh. Vẫn là mái tóc dài và đen nhánh ấy, nhưng đã được nàng cột vồng lên phía sau cho gọn gàng hơn. Nét môi xinh nhưng giờ đây nhạt thắm phai màu. Đã mấy tháng rồi không gặp, nàng có vẻ gầy đi nhiều, mà theo như nàng nói trong thư là vì buồn và nhớ anh. Tâm hồn Phong xao động và bất giác dâng lên một niềm thương. Anh run run lật phía sau tấm hình và nhìn thấy một dòng chữ nắn nót: “Gửi anh tấm hình kỷ niệm. Để nhớ những ngày xa nhau”. Khoé mắt Phong chợt thấy cay cay. Ngay lúc này đây, anh muốn mình là cánh chim để có thể bay về ngay bên nàng, để vỗ về và nói với nàng muôn ngàn lời yêu thương. Nhưng khoảng cách địa lý như một vách ngăn vô hình, khiến anh không thể. Cố ghì chặt những cảm xúc ngổn ngang, anh nhìn xuống bức thư, đọc tiếp.

Ở phần tái bút, cô hẹn là hè này sẽ đợi anh ở quê. Vậy là không còn phân vân nữa, giờ đây anh đã có một kế hoạch nghỉ hè cho riêng mình. “Đợi đến sau hè, mình sẽ đăng ký một lớp học võ vào buổi tối cũng được” – Anh tự nhủ và trong lòng đã quyết định rõ ràng như thế.

o0o

Cách đây một năm về trước.

Sau khi đã thi xong hai trường ở Hà Nội, Phong trở về thành phố quê hương để hoàn thành nốt đợt thi tuyển sinh đại học. Tại đây, anh sẽ thi vào trường sư phạm theo như nguyện vọng đã được đăng ký từ trước. Cả ngày hôm qua anh tất bật di chuyển như một con thoi, và đến tối thì anh đã đi chuyến tàu đêm, vượt cả chặng đường hơn ba trăm cây số để sáng nay kịp có mặt ở đây.

Vừa đặt chân xuống thành phố, Phong đã đi xe đến ngay địa chỉ mà một người quen đã giới thiệu. Theo kế hoạch, anh sẽ ở lại đây khoảng chừng ba ngày để đi thi.

Người lái xe ôm lớn tuổi chở Phong đến nơi, sau khi đã nhận đủ tiền, anh ta nổ máy và cho xe quay trở ra. Phong lấy tờ giấy ghi địa chỉ từ trong túi ra, xem kỹ một lần nữa rồi quyết định đẩy cổng bước vào bên trong. Trước sân có một cô gái đang tưới hoa. Cô gái ấy tóc dài, dáng người nhỏ nhắn, chiếc bình hoa sen trên tay cô đung đưa nhẹ nhàng. Những tia nước trong suốt bắn lên, lấp lánh trong ánh nắng mai. Phía dưới, những luống hoa Thạch Thảo dệt thành một tấm thảm màu tím biếc và khẽ rung rinh trong gió. Mãi làm việc và đứng quay lưng lại phía anh, cô đã không hề nhận ra sự hiện diện của người khách lạ.

Sau phút do dự, Phong ngập ngừng tiến lại gần:

- Xin lỗi! Bạn cho hỏi…

Cô gái ngoảnh lại, ngước đôi mắt bồ câu đen láy lên nhìn anh. Trước mắt cô là một chàng trai cao lớn, khuôn mặt trái xoan sáng sủa và mái tóc đen dày được cắt ngắn gọn gàng. Chàng đứng sững trước mặt cô, trên tay vẫn còn xách một cái túi đựng đầy những hành lý cồng kềnh.

Đây là khu tập thể sư phạm, ngày thường vẫn có nhiều sinh viên tìm đến để thuê trọ hoặc nhập học. Có lẽ chàng trai này cũng vậy? Cô nghĩ thế và nhẹ nhàng hỏi:

- Bạn muốn hỏi nhà hay tìm ai?...

Phong đặt cái túi xuống đất, giọng đã trở nên mạch lạc hơn:

- Cho mình hỏi… có phải đây là nhà thầy Thành không?...

- Dạ phải!

Anh nhìn cô như thể ước đoán, rồi ngần ngừ:

- Vậy bạn đây là?...

- Mình là Kiều Loan, con gái bố Thành đây! – Cô đáp và nhoẻn miệng cười. Nụ cười rất duyên, đôi má lúm đồng tiền hằn lên xinh xinh.

Thầy Thành không ở nhà, vì vậy mà Kiều Loan đã thay mặt bố để tiếp khách. Nhưng đó cũng là cơ duyên cho buổi đầu gặp gỡ giữa hai người. Họ đã chuyện trò thân mật và dần hiểu về nhau hơn. Giống như Phong, năm nay Kiều Loan cũng thi đại học. Nhưng anh thì thi những ba trường, còn cô thì chỉ chọn mỗi trường sư phạm này mà thôi. Như Kiều Loan đã nói, cô chỉ hợp với nghề gõ đầu trẻ, cái nghề mà cô vẫn hằng yêu thích từ bé.

Rồi cô hỏi anh chuyện đi thi ở Hà Nội. Anh ngồi thẳng người lên, hào hứng kể lại những gì đã mắt thấy, tai nghe trong suốt chuyến đi của mình, về những thắng cảnh Hà Nội, về cầu Long Biên, hồ Hoàn Kiếm. Ở phía đối diện, cô ngồi chống cằm, mở to mắt lắng nghe với một thái độ chăm chú và thán phục. Khi anh vừa dứt lời, cô chép miệng, tiếc rẻ:

- Ngày trước, Loan cũng từng được theo bố ra chơi Hà Nội một lần. Nhưng vì hồi đó còn bé quá, chẳng nhớ được gì cả!…

- Vậy ư? - Phong đáp và nhìn lọ hoa Thạch Thảo trên bàn. Căn nhà ngập tràn sắc hoa màu tím, cả ngoài sân và cả ở trong nhà.

- Kiều Loan yêu thích loài hoa này sao?

- Sao Phong lại hỏi vậy?

- Vì ngoài vườn cũng trồng, mà ở đây cũng có nữa.

Cô mỉm cười, khẽ chạm vào cánh hoa xinh xinh:

- Ừ! Phải rồi. Phong đoán đúng đấy. Mình thích loài hoa này vì chúng giản dị, khiêm nhường. Vả lại, nom chúng nhỏ xinh và đáng yêu, cứ y như những mặt trời bé con ấy.

Buổi tối hôm ấy, cả hai cùng ôn bài để ngày mai đi thi. Cô ngồi ở bàn học của mình, còn anh thì bày sách vở ra bàn khách để học. Đôi lúc bâng quơ, thi thoảng họ lại bắt gặp ánh mắt của nhau. Những lúc ấy, cô lại đỏ mặt, rồi ngượng ngùng quay đi. Phong để ý, trên bàn học của Kiều Loan lúc nào cũng có một lọ hoa Thạch Thảo, thứ hoa mà cô vẫn yêu thích.

Sau mỗi buổi thi, lúc chạm mặt nhau ở cổng, họ lại cùng trao đổi về bài làm. Cô lắng nghe, thán phục kiến thức của anh và yêu luôn cả cái vẻ xinh trai cũng như cách nói chuyện có duyên của anh nữa.

Những ngày hè ngắn ngủi bên nhau rồi cũng qua đi. Hai ngày sau thì kỳ thi đại học kết thúc. Hôm chia tay, cô đã bịn rịn tiễn chân anh.

- Tạm biệt Kiều Loan! – Ra đến cổng, anh dừng lại và nói.

Hai hàng mi cong chớp chớp, cô ngước nhìn anh, buồn rầu.

- Phong sẽ viết thư cho Loan chứ? – Giọng cô thảng thốt.

- Nhất định rồi! Mình sẽ viết! – Anh mím chặt môi, cố dấu đi những cảm xúc đang chực trào dâng trong lòng.

Anh đi rồi, Kiều Loan còn thẩn thờ nhìn theo. Nàng rứt một chiếc lá, cầm nó trên tay và cứ thế vân vê trong vô thức mà chẳng hiểu vì sao. Lúc sau sực tỉnh, nàng mới chậm rãi quay vào, nhưng lòng dạ thì những ngổn ngang tâm sự. Cảm giác trống rỗng, nàng hiểu rằng giờ đây, con tim này đã thuộc về anh, người lữ khách chợt đến rồi chợt đi như một giấc mộng thoáng qua.

o0o

Mấy tháng sau, khi đã có kết quả thi tuyển sinh đại học, Phong quyết định chọn học tại một trường ở Hà Nội. Bữa ấy, trong lúc anh đang tập quân sự thì bất ngờ nhận được thư Kiều Loan. Cầm lá thư trên tay, Phong đã rất ngạc nhiên, vì anh mới nhập học, còn chưa kịp cho ai địa chỉ, vậy thì làm sao mà cô có thể biết để gửi thư? Trong thư, cô chúc anh đã đi học ở Hà Nội và cho biết là mình cũng đã đỗ sư phạm, mái trường thân yêu mà cô vẫn hằng mơ ước. Rồi cô nhắc nhở những kỉ niệm về buổi đầu gặp gỡ, về những tình cảm lưu luyến, vấn vương. Từng dòng, từng chữ đều thấm đẫm những tình cảm thầm kín của cô, một cô gái mới lớn, đang đứng trước ngưỡng cửa huy hoàng nhất của cuộc đời. Bức thư của Kiều Loan đã khiến anh rất vui và phần nào cảm động, vì đây là lần đầu tiên anh nhận được thư kể từ khi đi học xa nhà.

Tối hôm ấy, dưới ánh đèn khuya của căn phòng ký túc xá, anh đã kê tờ giấy lên chiếc bàn học con con để viết thư hồi đáp cho cô. Sau những dòng thăm hỏi ân cần, anh cũng không quên hỏi về những luống hoa Thạch Thảo trong vườn nhà cô. Anh còn ví von rằng, những bông hoa ấy cũng giống như cô, nom nhỏ xinh và đáng yêu vô cùng.

Trong thư sau, cô nói rằng, nếu anh thích thì kể từ lần sau, mỗi lá thư cô sẽ gửi kèm cho anh một bông hoa Thạch Thảo. Rồi cô ra vườn, chọn hái những bông đẹp nhất, có cánh hoa to nhất, sau đó đem ép vào trong một cuốn vở. Từ đấy, lá thư nào gửi cho anh cũng có một bông hoa Thạch Thảo, như một dấu hiệu riêng của tình yêu giữa họ, chỉ riêng hai người mới có.

Cứ thế, những dòng thư qua lại đã gắn kết tình cảm của họ với nhau, vun đắp cho những mầm xanh yêu thương nảy nở.

Kỳ nghĩ tết năm ấy, hai người đã hẹn gặp nhau ở quê. Trong khu vườn rợp bóng cây và in bóng hàng dừa cao vút, với những tình cảm đã đong đầy trong tim, họ đã trao cho nhau nụ hôn đầu nồng nàn, say đắm.

Và rồi mối tình tươi đẹp, thuỷ chung ấy đã kéo dài suốt hai năm, khiến cho không ít người phải mơ ước và ngưỡng mộ.

Nhưng hỡi ôi, tình yêu thì lại luôn mong manh, dễ vỡ. Giống như một đoá hoa lộng lẫy đẹp xinh, nhưng lại dễ dàng tàn úa, nát tan bởi những cơn mưa gió dập vùi. Những đêm dài mộng mị, những hiểu lầm vì năm tháng cách xa đã khiến cho ngọn lửa tình yêu ấy lung lay, chực tắt. Trên đời, chẳng có yêu thương nào là không phai, như một quy luật tất yếu của thời gian, tình yêu của họ cũng đã đi đến hồi kết thúc.

Khi nhận được lá thư chia tay của anh, Kiều Loan đã khóc nức  nở, và trong cơn đau khổ, nàng đã vùng chạy ra vườn như một kẻ mộng du. Tại đây, nàng đã ngồi hàng giờ bên những luống hoa Thạch Thảo, thổn thức kể cho chúng nghe về những tâm sự lòng mình. Nàng vuốt ve chúng như đang âu yếm một đứa trẻ, những giọt nước mắt nàng rỏ xuống, ướt đẫm và nhuộm thắm những cánh hoa tím biếc.

Héo hắt vì buồn đau, từ đấy nàng chỉ chú tâm vào việc học. Nàng đi lại như một cái bóng, lẻ loi và cô quạnh. Nàng ít gặp gỡ bạn bè hơn, tiếng cười trong trẻo vụt tắt và ánh mắt trong veo ấy giờ đây cũng trở nên u uất, buồn đau. Nàng không còn là nàng, không trẻ trung, cuồng nhiệt nữa, nàng chỉ còn là cái bóng của chính mình.

Mặc dù đã chia tay, nhưng vì còn yêu anh, Kiều Loan vẫn tiếp tục đợi chờ và hy vọng. Dù anh bây giờ như xa một tầm tay, nhưng cô vẫn ngoài mình ra để cố níu giữ một bóng hình hư ảo. Trong sâu thẳm, cô vẫn có niềm tin ở anh, vì những ân tình giữa hai người đã từng có trước đây. Cô hiểu rằng, tình yêu ấy thật lớn lao, nó là duy nhất trong đời và ngàn lần không đơn giản. Phải đến mấy năm sau, cho đến khi hay tin anh đã đi làm việc ngoài bắc, Kiều Loan mới hiểu rằng mối nhân duyên giữa họ đã dứt. Chẳng còn gì để hy vọng nữa rồi, đường đời giờ đây đã hai người hai hướng đi.

o0o

Phong ngồi vào bàn và với tay bật cái công tắc máy tính lên. Buổi làm việc đầu tuần, anh cần phải soạn thảo một số văn bản và lên lịch công tác cho cả tuần sau. Anh ngồi lặng im và bắt đầu bóp trán suy nghĩ, bên trong màn hình, con trỏ máy tính nhỏ xíu vẫn nhấp nháy như chờ đợi.

Vừa khi ấy thì chuông điện thoại bàn réo rắt vang lên. Anh vội vàng nhấc máy:

- A lô!

Đầu dây bên kia là một giọng con gái:

- A lô! Xin hỏi phòng hành chính phải không ạ?

- Vâng! Phải rồi…

Vài giây im lặng trôi qua. Dù những tiếng lẹt xẹt khiến cho âm thanh đường truyền không rõ lắm, nhưng anh vẫn nhận ra giọng nói ấy nghe rất quen. Anh nhíu mày và cố lục tìm trong trí nhớ, nhưng nhất thời vẫn chưa thể nghĩ ra người ấy là ai. Tiếng nói bên kia lại cất lên:

- Xin cho gặp anh Phong được không ạ?

- Vâng! Tôi là Phong đây!

- Anh Phong đó phải không? – Giọng bên kia như reo lên – Em, Kiều Loan đây!...

Phải rồi, đúng là Kiều Loan rồi! Tim anh như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, vì hồi hộp và vì bất ngờ. Im lặng một lúc như thể do dự, Kiều Loan nói tiếp:

- Bữa nay Loan gọi điện là để…mời Phong về dự đám cưới!… Loan sắp kết hôn rồi!...

- Thật vậy sao? – Phong giật nẩy mình, cảm giác như có một luồng điện chạy dọc cơ thể.

- Ừ!...

Đến lượt Phong im lặng. Một lúc sau anh mới lấy lại được bình tĩnh, cố để lấy giọng tự nhiên nhất có thể:

- Vậy Phong chúc Loan hạnh phúc nhé!

- Phong sẽ về chứ?

- Dù bận biệc, nhưng Phong sẽ cố gắng để về dự đám cưới Loan! – Anh đáp như một cái máy, dù biết rằng lời hứa ấy sẽ chẳng bao giờ thực hiện được.

Kiều Loan cúp máy, không hiểu vì sự cố đường dây hay vì nàng chẳng thể nói nên lời nữa? Vậy là cuộc gọi kết thúc, một cuộc đối thoại ngắn gọn, nhưng sẽ còn vang vọng mãi trong tim anh. Dường như nàng chỉ gọi để báo tin, chứ không phải để chuyện trò như thường tình. Như một bổn phận, một nghĩa vụ mà người ta cần phải làm vậy. Nàng kết hôn, đó là điều hệ trọng của một đời con gái. Người đầu tiên và duy nhất xứng đáng được biết tin ấy chẳng phải ai khác ngoài anh. Mỗi khi gặp điều gì đó hạnh phúc hay khổ đau, người mà người ta nghĩ đến đầu tiên bao giờ  cũng là người mà họ yêu thương và tin tưởng nhất.

Phong đặt ống nghe xuống, buồn rầu ngồi thừ người ra mất một lúc. Từ từ mở chiếc ngăn kéo bàn làm việc, anh lấy ra từ trong đó bức hình của Kiều Loan đang ngồi trước biển. Anh ngắm nhìn rất lâu người con gái ấy, cái bóng hình đã gắn liền với những năm tháng mộng mơ, với nắng hè rực rỡ và mối tình cuồng nhiệt của tuổi thanh xuân. Anh hình dung ra cô đang rạng rỡ đi bên chồng trong bộ váy cưới cô dâu. Nhưng người đó không phải anh, mà là một người đàn ông khác. Tim anh nhức nhối, cảm giác như đang có một tảng đá đè nặng chình chịch lên trên lồng ngực. Phong thở dài buồn bã, rồi lục túi lấy thuốc lá ra hút. Anh rít một hơi thật sâu, nhả khói lơ lửng lên cao, như để quên, để cố xua đi những nổi cô đơn trống vắng đang không ngừng đeo bám và bủa vây lấy anh ngay lúc này. 

Có tiếng bước chân dọc hành lang, nghe mỗi lúc một gần. Lát sau, cánh cửa hé mở, cái dáng thanh thanh của cô văn thư đẩy cửa bước vào. Cô ta chào anh rồi cầm lấy cây chổi đót, bắt đầu công việc lau rửa và quét dọn nhà như mọi khi.

Phong cất vội tấm hình vào ngăn kéo, cố giữ cho vẻ mặt tự nhiên như ngày thường. Anh nhìn vào màn hình, trán nhíu lại, đầy ưu tư. Nhưng nếu tinh ý thì sẽ nhận ra ngay, đó là thái độ của một người mang nhiều tâm sự riêng tư hơn là đang lo nghĩ cho công việc.

Cô văn thư lau rửa xong thì để khay cốc chén lên bàn, sau đó cô mở ngăn tủ hồ sơ lấy ra cái mũ vải rộng vành và đội lên đầu.

Như sợ cô ta vụt biến mất, anh vội hỏi:

- Cô đi chợ đấy à?

- Vâng!

- Cô sẽ mua hoa chứ?

- Tuần nào em chẳng mua hoa. Anh đã biết rồi mà. Sao bữa nay anh lại hỏi vậy? – Cô hỏi và mở to mắt nhìn anh ngơ ngác.

- Không!...À!...Chỉ là tôi muốn nhờ cô chút việc!...

- Vâng! Anh cứ nói.

- Nhờ cô mua dùm lọ hoa Thạch Thảo được không?

- Loại khác không được sao?

- Không!

Cô văn thư nhíu mày và cảm thấy có đôi chút thắc mắc. Ngày thường, chẳng bao giờ anh hỏi đến việc của cô, vậy mà bữa nay lại quan tâm và nhờ cô mua hoa. Cảm thấy có điều gì đó khác lạ, tuy nhiên cô cũng không dám hỏi thêm nữa. “Xảy ra sự khác thường như thế, ắt hẳn phải có chuyện gì đây. Nghe cả cách ăn nói cũng lạ, có thể là anh ấy có tâm sự? Mà là chuyện gì ấy nhỉ?” – Cô văn thư tự vấn như thế rồi với một vẻ tất bật như thường thấy, cô quay người bước nhanh ra cửa.

- Hượm đã! – Phong lớn tiếng gọi theo.

- Anh còn dặn gì nữa? – Cô gái dừng lại, hỏi.

- Thạch Thảo tím cô nhé!

“Thạch Thảo tím” – Cô văn thư lẩm nhẩm nhắc lại như thể sợ mình sẽ quên đi mất, rồi lại quay người lầm lũi bước đi.

Chừng nửa tiếng sau, lọ hoa Thạch Thảo tím đã được đặt ngay ngắn trên bàn làm việc của Phong. Từ trong lọ, những cành lá vươn lên, căng tràn sức sống, những giọt nước trong suốt như sương còn vương vấn trên cánh hoa.

- Cảm ơn cô! – Anh nói, giọng run run vì xúc động.

- Dạ! Không có gì! – Cô văn thư khẽ đáp, rồi cô khép nhẹ cánh cửa, ý tứ lui ra.

Anh ngồi im, lặng nhìn những bông hoa Thạch Thảo rồi bùi ngùi nhìn suốt cuộc tình. Anh hình dung ra những buổi hẹn hò, những lần đón đưa và cả những đêm đông nghìn trùng xa cách. Mới đó mà đã mấy năm rồi. Cuộc tình ấy như một giấc mộng thoáng qua, nhưng là mộng đẹp, dù có chứa đựng trong đó cả muôn ngàn day dứt, buồn thương. Vậy là nàng đã đi lấy chồng, Thạch Thảo tím cũng không còn là của riêng ta nữa, từ nay xin trả lại cho thế gian. Những bông hoa nhỏ xíu như mặt trời bé con, chúng thật nhỏ xinh và đáng yêu dường bao. Hoa kia nay cũng như người. Liệu ta yêu người hay yêu hoa? Yêu hoa hay yêu người?   

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2025

Lão KiBo

 

Truyền thuyết kể lại rằng: Thời xưa, để bảo vệ của cải đã tích luỹ được, những người giàu có thường hay cất dấu chúng bằng cách chôn vùi xuống đất. Đồng thời, nhằm trấn yểm, họ còn chôn theo xuống đó thân xác của một cô gái đồng trinh nữa. Linh hồn của những cô gái này rất thiêng, sẽ trông chừng và canh giữ cho hầm mộ được bình an vô sự. Và người ta gọi đó là thần giữ của. Thần giữ của biến hoá khôn lường, khi thì trong hình hài của một con rắn, lúc lại là một loài linh thú khác để xua đuổi những kẻ gian tà, trộm cướp. Người ta đã chứng kiến rất nhiều trường hợp những kẻ xâm phạm kho báu bị thần trừng phạt và báo oán, thường thì mất mạng, nếu không thì cũng trở nên mất trí, điên loạn. Nhờ có thần giữ của ngày đêm canh giữ, trãi qua hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, của cải vì vậy vẫn còn nguyên vẹn mà không hề bị lấy đi. Những hầm mộ bí ẩn và lạnh lẽo ấy, theo thời gian, chỉ còn tồn tại trong ký ức cùng câu truyện kể truyền kì của các thế hệ mai sau.

Nhưng đó là truyền thuyết. Còn ngoài đời thực, đôi khi thần giữ của lại xuất hiện trong hình hài của một con người bình thường, thậm chí hết sức bình thường, duy chỉ có tính cách của họ là khác thường mà thôi.

 KiBo là một lão già lụ khụ đã ngoài bảy mươi tuổi. Người lão tầm thước, dáng đi chậm rãi và hơi lòng khòng. Trên cái đầu hói lên tận đỉnh ấy, những món tóc hoa râm xoắn xít, dài và lấp lánh như sợi bạc. Da lão ngăm đen, săn lại như sắt, như đồng. Với tính cách trầm lặng, môi lúc nào cũng mím chặt, chẳng mấy khi người ta nhìn thấy lão cười cả. Cứ như thế, thiên hạ có cảm giác, mỗi nếp nhăn, mỗi đường nét trên cơ thể lão đều được hun đúc nên bởi một thứ chất liệu bền bỉ và cứng cáp tựa như kim tiền vậy.

Gia đình lão KiBo truyền đời khá giả, của cải cũng có đến mấy thế hệ tích cóp. Ông nội lão làm tri huyện, bố lại là một đại địa chủ nức tiếng. Đến đời lão thì chỉ còn là một lão nông chi điền. Là con một, của cải cha ông cũng vì vậy mà gom hết vào một mình lão. Tuy chỉ là nông dân, nhưng tiền của lão cũng có đến ức vạn vì được thừa tự phúc ấm tổ tiên. Sự đời nhiều khi cũng thật trớ trêu, giàu có là thế, nhưng tính cách lão ta thì lại keo kiệt đến mức…ỉa ra cứt sắt.

Lão KiBo ở trong một căn nhà mái bằng ba gian rộng rãi với bếp núc đầy đủ. Ngoài ra còn có vườn cây, ao cá. Có điều lão chỉ trồng toàn cây ăn trái và rau củ mà thôi, tịnh không có lấy một cây hoa, cây cảnh nào hết. Lão cho rằng, cây cảnh là giống vô dụng, vì chúng chẳng mang lại hiệu quả kinh tế gì sất.

Nhiều người đến chơi, khuyên lão nên trồng thêm cây hoa, cây cảnh cho đẹp cửa, đẹp nhà. Lão đáp:

- Với tôi: Hoa đẹp nhất là hoa cà, hoa cải. Cây cảnh tốt nhất là cây bưởi, cây xoài.

Mà ngẫm cho cùng thì lão nói đúng thật. Những loài hoa kia cũng đẹp chứ sao, ngoài ra, lại còn cho rau cho quả nữa chứ.

Trong cuộc sống thường ngày, lão KiBo nắm hết quyền tài chính trong gia đình và tự mình quyết định mọi công việc chi tiêu. Lão làm như vậy, cốt làm sao để tiền bạc của mình không bị lọt ra ngoài, giống như một cái túi tham không đáy, chỉ có vào mà không có ra. Có thể nói, cả một đời lão sống tằn tiện, ăn không dám ăn, mặc cũng không dám mặc vậy.

o0o

Vợ lão KiBo chết cách đây đã bảy năm. Người ta nói bà lão mất mạng là vì cái tính ki bo của ông chồng. Bà sống đã phải làm việc vất vả, lúc ốm đau cũng chẳng được thuốc thang, tẩm bổ gì hết, cuối cùng thì kiệt sức mà chết. Khi vợ qua đời, lão KiBo còn không nỡ bỏ tiền ra để mua một cỗ quan tài tốt. Cuối cùng, người ta đành phải đốn hai cây xoan trong vườn để đóng cho bà lão một cỗ quan tài bằng gỗ tạp. Lão nói, chết rồi thì thế nào mà chẳng được. Không quan tài thì bó chiếu mà chôn cũng xong, cần gì phải gỗ tốt cho tốn kém. Người đầu gối tay ấp với mình cả đời mà lão còn nói như thế đấy. Với lão, chỉ có tiền là quan trọng, là thứ mà lão yêu quý nhất, còn hơn cả tình thân.

Vì sợ người ta biết mình giàu, lão KiBo chôn tiền dưới gốc một cây Thị cổ thụ ở góc vườn nhà mình. Lão chọn chỗ này, vì ở đây kín đáo, ít có người qua lại, dòm ngó. Lão dùng thuổng đào một cái hố lớn và vuông vức. Những hũ sành đựng đầy tiền, vàng được cho vào một cái rương gỗ rồi đậy nắp, khoá lại. Sau đó lão lại đặt cái rương xuống hố và lấp đầy đất lên trên. Cứ thế, có bao nhiêu tiền là lão lại bỏ vào trong rương để cất dấu. Thi thoảng, nhân lúc không có ai, lão lại lén ra vườn, đào kho báu của mình lên để kiểm tra. Lão KiBo ngắm tiền nhiều thành nghiện, mỗi lần như vậy, ánh mắt của lão lại sáng rực lên những tia sáng man dại với một niềm khoái cảm vô biên.

Lão dự định sẽ là người độc quyền chiếm hữu số tài sản ấy cho đến tận hơi thở cuối cùng của cuộc đời. Để rồi đến phút chót, sẽ giành lấy chiến thắng oanh liệt ấy như một vị chiến thần vô địch ở ngoài mặt trận. Vì vậy mà dù có tên là KiBo hẳn hoi, nhưng người đời vẫn thường gọi lão là “Thần giữ của”.

Về đường con cái, lão KiBo chỉ có một người con trai duy nhất tên là Vương. Tiếng là con nhà giàu, nhưng Vương cũng phải sống một cuộc sống hết sức kham khổ. Chẳng bao giờ anh có lấy một đồng, một cắc nào trong tay, vì vậy mãi đến gần ba mươi tuổi mà anh vẫn chưa thể lấy được vợ.

Lão KiBo giữ tiền chặt như Bạch Tuộc quấn lấy con mồi, chẳng tài nào mà gỡ ra cho được. Cuối cùng, hết cách, anh con trai đành phải quyết định lên thành phố làm thuê để kiếm tiền. Có như thế thì may ra anh mới cưới được vợ, còn như dựa vào ông bố keo kiệt của mình thì chỉ còn nước chết già ở xó quê mà thôi.

Dư luận cho rằng, lão KiBo chỉ có hai bộ quần áo để mặc. Mùa nóng thì lão mặc một bộ đồ ka ki màu xanh lá. Cái áo rộng thùng thình, cổ bẻ và có hai túi phình to ở phía dưới, kiểu như áo lính NaTo. Mùa lạnh thì lão mặc thêm chiếc áo len cao cổ vào trong, rồi lại khoác áo ka ki ra bên ngoài. Những hôm lạnh quá, lão đi thêm đôi tất cho ấm chân là được. Vậy là xong, chẳng cần phải giày, ủng gì cho tốn kém, phiền nhiễu. Lão gọi mỉa những người ăn mặc sang trọng là lũ hề thích làm đỏm, nom chẳng khác nào người ta đang đóng tuồng, diễn kịch trên sân khấu cả.

Lần ấy lão KiBo muốn có một cái chuồng để nhốt gà, bèn bàn chuyện này với đứa cháu họ tên Tùng. Tùng bấm đốt tay, nhẩm tính:

- Một cái chuồng gà khung sắt và lưới đan bằng nhôm cũng tốn khoảng ba triệu. Bác bỏ tiền ra, cháu sẽ thuê thợ họ làm cho.

Lão phát hoảng, la lên:

- Những ngần ấy tiền cơ à? Thế thì tao thà làm chuồng gà bằng nứa còn hơn.

Rồi lão rủ:

- Ngày mai đi với bác lên rừng. Hai bác cháu ta sẽ đốn nứa về rồi cùng đan chuồng gà nhé.

Dù ngần ngại, nhưng vì cả nể, anh cháu đành phải nghe theo. Sáng hôm sau, hai bác cháu mang theo hai cái rựa sáng loáng rồi đi vào rừng. Đốn từ sáng đến trưa thì cũng được hai vác nứa lớn. Bác cháu cột chặt rồi vác lên vai đi về. Đến chỗ dốc đứng, đường khó đi, lão KiBo vô tình vấp chân vào một hòn đá và ngã lăn kềnh ra. Bó nứa văng sang một bên, còn người lão thì lăn lông lốc mấy vòng như một khúc gỗ tròn. Anh cháu hốt hoảng, quẳng ngay bó nứa xuống, rồi vội đỡ ông bác ngồi lên một tảng đá. Một bên đầu gối lão bị va vào đá, ống quần rách bươm, máu chảy đầm đìa. Nhìn cái đầu gối nứt toác ra, đỏ lòm, Tùng vội đi tìm bứt một nắm cỏ mực, bỏ vào miệng nhai rồi đắp lên vết thương cho lão.

- Tội nghiệp quá! Đầu gối toác hết cả rồi. Bác cố chịu đau nhé! – Tùng siết mạnh miếng vải để cột chặt vết thương cho ông bác, miệng không ngừng xuýt xoa.

Mặc dù mặt đã dại đi vì đau và vì mất máu, nhưng mắt lão chỉ nhìn xoáy vào chỗ quần bị rách, nói:

- Đầu gối bị thương thì có hề gì. Tao chỉ tiếc cái quần bị rách thôi!

Nghe câu ấy, những người bình thường chắc sẽ ngạc nhiên lắm, nhưng với một người coi trọng đồng tiền hơn cả tính mạng như lão KiBo thì điều đó cũng chẳng lấy gì làm lạ cả.

Ông cháu lắc đầu, ngán ngẩm:

- Cái quần này bác đã mặc bao nhiêu năm rồi còn gì. Cũng thay cái khác được rồi, còn tiếc làm gì nữa.

Mắt lão sáng lên:

- Ấy đấy, chính vì nó gắn bó như thế nên tao mới tiếc đấy!

o0o

Sáng chủ nhật, sau khi cho cá ăn xong, lão KiBo ngồi ngả lưng xuống chiếc ghế đá cạnh bờ ao để nghỉ ngơi một lúc. Nhìn lũ cá quẫy đuôi đớp mồi, phô ra những lớp vảy xanh, vảy vàng óng ánh, lòng lão dâng lên một niềm sung sướng vô bờ. Một vụ thu hoạch cá nữa lại sắp đến. Với một con người có đầu óc kinh tế như lão, dĩ nhiên là nuôi cá để bán chứ đâu chỉ để ngắm. Người ta thì hoặc là nuôi cá thành phẩm để bán, hoặc nuôi cá cảnh để thoã mãn thú chơi. Nhưng với lão KiBo thì khác, nuôi cá phải đạt được cả hai mục đích, vừa bán kiếm tiền, vừa để ngắm. Như vậy là một công đôi việc. Thế đấy, cái tư duy của người keo kiệt và thực dụng bao giờ cũng phi thường như vậy đấy.

Đã ở thế kỷ hai mốt, thế nhưng cuộc sống của lão KiBo gần như là tự cung, tự cấp. Cá dưới ao, gà ở trong chuồng, rau củ ngoài vườn, muốn gì có nấy, chẳng việc gì mà phải phụ thuộc vào ai cả. Không những thế, phần dư ra lão còn mang đi bán để kiếm tiền. Như vậy, chẳng những không phải mất tiền cho thiên hạ, ngược lại tiền còn chảy thêm vào túi mình nữa.

Triết lý sống của lão KiBo là: Tăng cường dùng thứ của người khác, hạn chế dùng thứ của mình.

Thoảng theo chiều gió, từ xa có tiếng nhạc xập xình, tiếng hát hò vọng lại. Trong làng hôm nay có đám cưới, một gia đình tổ chức hôn lễ cho người con trai cả của họ. Nhưng lão KiBo thì chúa ghét đám cưới. Cứ đến mùa cưới hỏi, hoặc là lão đóng cửa ở trong nhà hoặc bỏ đi chơi đâu đó. Gọi là trốn như trốn nợ. Đám cưới là hỉ sự, là khởi đầu của sinh sôi nẩy nở nhân loại, cớ sao lão KiBo lại căm ghét như vậy? Nguyên do là vì tiền cưới. Lão sợ phải mừng cưới.

 Bữa nay lão ở nhà cho cá ăn là cũng có ý trốn, vì đám cưới này người ta phát thiệp mời cho cả làng. Giữa lúc lão KiBo đang mãi mê ngắm cá thì chợt nghe có tiếng ai đó gọi ý ới ngoài cổng. Lão ngó ra thì thấy có mấy người ăn vận lịch sự đang rồng rắn đi vào.

Biết là họ đến để rủ mình đi ăn cưới, lão KiBo định lặng lẽ chuồn vào trong nhà. Nhưng đã không còn kịp nữa rồi. Một người đã nhìn thấy lão và kêu lên mừng rỡ:

- Lão KiBo đây rồi! Chúng ta đi đám cưới thôi!

Lão đứng lên, gãi đầu sồn sột:

- Nhưng nhà ấy với tôi xưa nay có đi lại gì đâu. Vả lại, cũng chẳng thấy mời mọc gì cả…

Một người khác xoa cằm, thắc mắc:

- Lạ nhỉ! Rõ là người ta mời cả xóm kia mà?...

- Ừ, thì cũng có mời – Lão KiBo vội đính chính – Nếu vậy thì để tôi đi…

Những người kia lấy ra một cái phong bì, rồi mỗi người góp vào đó hai trăm ngàn. Đến lượt mình, lão KiBo chần chừ:

- Tôi bỏ trăm rưỡi được không. Nhà tôi chỉ còn ngần ấy thôi?

Những người giàu thì hay than nghèo, kể khổ. Lão KiBo nhà ta cũng không phải là ngoại lệ vậy.

- Không được đâu. Chúng tôi đều đồng hạng hai trăm cả. Nếu muốn mừng trăm rưỡi thì phải bỏ phong bì riêng, lão KiBo ạ! – Một cụ bận comple lên tiếng.

Biết không thể kì kèo được, lão KiBo đành phải bấm bụng góp hai trăm ngàn. Nhưng trước khi bỏ tiền vào phong bì, lão không quên lầu bầu:

 - Gì mà đắt đỏ thế không biết. Chúng nó định kinh doanh đám cưới đấy chắc? Thật là ăn cơm giá cao mà. Với chừng nấy tiền, tôi có thể sống ung dung được cả chục ngày cơ đấy.

Đặc tính của những người chỉ sống vì tiền là vậy. Một khi đã động đến túi tiền của họ, dù chỉ là một xu nhỏ, bạn cũng sẽ bị họ nguyền rủa đến ba đời. Thậm chí, họ còn lôi hết những gì là xấu xa, kém cỏi nhất của bạn ra để mà chì chiết và sỉ vả một cách vô cùng cay nghiệt nữa.

Lúc mọi người giục mặc quần áo đẹp vào, lão KiBo tặc lưỡi:

- Thế này lịch sự chán ra rồi. Việc gì mà phải bày vẽ cho nhiêu khê!

Ăn cỗ cưới xong, mọi người trong mâm lục tục đứng dậy ra về. Riêng lão KiBo thì vẫn còn ngồi lại. Lão thủng thẳng lấy từ trong túi ra một cái bao nilon đã chuẩn bị sẵn từ trước. Rồi từng thứ một, lão trút hết thịt gà, lòng xào, bánh chưng, bánh ngọt…vào đấy. Tóm lại là tất cả những gì trút được lão đều trút hết. Chứng kiến cảnh ấy, những người ngồi gần chỉ dám hé mắt nhìn, rồm tủm tỉm cười mà lờ đi như không biết. Bố chú rể đứng ở góc rạp, nhìn chằm chằm vào lão với một ánh mắt đầy vẻ tức tối. Đến lúc thấy lão trút nhẵn mâm cỗ thì không còn nhịn được nữa, bèn tiến đến, hất hàm hỏi:

- Này lão KiBo! Những người khác ăn xong đều đã về cả rồi. Lão có thấy ai làm như vậy không hử?....

Lão KiBo vênh cái mặt đỏ dừ vì rượu lên, lý luận:

- Chúng tôi mang tiền đến mừng. Ăn thừa thì phải mang về chứ sao? Không thì lỗ à? Tây nó cũng thế đấy!

Sợ làm to chuyện thì sẽ hỏng mất cuộc vui, ông bố đành cố nuốt cục tức, nắm chặt hai bàn tay mà hậm hực bỏ đi. Lão KiBo đứng lên, chẳng thèm chào ai cả, xách cái túi đồ thừa bình thản ra về, hiển nhiên như là mặt trời mọc ở đằng đông vậy.

Người ta nói rằng, những người keo kiệt có hai đặc điểm nổi trội là sạch sẽ và sòng phẳng. Họ sợ mất tiền cho người khác, cho nên cái gì cũng gọn gàng, sòng phẳng. Vì ý thức được quyền tư hữu của mình, họ cũng rất tôn trọng quyền tư hữu của người khác.

Với người hào phóng, cho đi là hạnh phúc. Còn với người keo kiệt, hạnh phúc là giữ chặt túi tiền của mình. Đối với họ, tiết kiệm là lý tưởng, là động lực sống, là kim chỉ nam cho mọi hành động vậy.

o0o

Chiếc xe cứu thương màu trắng có in hình chữ thập đỏ của bệnh viện chạy thẳng một mạch vào trong sân rồi đỗ xịch lại. Vài người hàng xóm cùng mấy đứa con nít nữa cũng tò mò theo vào, xúm xít chỉ trỏ, bàn tán. Lão KiBo lúc ấy vừa chụp cái mũ vải lên đầu định đi thăm đồng, nhìn thấy cảnh ấy thì đứng ngớ người ra mà chẳng hiểu cơ sự gì.

Cửa xe mở, người ta khiêng ra một chiếc băng ca, người nằm trên đó là Vương, con trai ông. Lão KiBo tấp tểnh bước theo, hỏi dồn:

- Nó bị làm sao thế?

- Anh ấy bị tai nạn lao động, chấn thương sọ não rồi dẫn đến liệt tứ chi! – Người bác sĩ mặc blouse trắng đi kèm đáp.

Người ta đặt Vương lên cái giường ở góc phòng. Anh ta nằm thiêm thiếp, làn da trắng bệch, ánh mắt trống rỗng, vô hồn. Khi nhìn thấy lão KiBo, Vương lặng lẽ quay mặt vào trong, vài giọt nước mắt trong suốt rịn ra trên khuôn mặt đầy vẻ đau khổ, bất lực.

Người bác sĩ to béo nhìn lão KiBo, hỏi:

- Ông có phải là bố bệnh nhân?

- Phải!

- Phiền tôi muốn gặp riêng ông một lúc!

Lão KiBo dẫn vị bác sĩ đi đến chỗ bàn khách và ngồi xuống.

- Chuyện là thế này – Bác sĩ nhíu mày, nói – Tình hình của anh Vương khá nghiêm trọng. Chúng tôi đã cấp cứu cho anh ấy qua cơn nguy kịch. Nhưng để có thể hồi phục, cần phải nhập viện để điều trị lâu dài. Chi phí là khá lớn…

- Bao nhiêu?

- Thủ tục nhập viện, chi phí điều trị và chăm sóc ban đầu, ước tính cũng khoảng vài trăm triệu!

- Những hai trăm triệu? – Lão  KiBo trố mắt kinh hãi.

- Phải vậy ông ạ!

Lão KiBo nảy lên như đỉa phải vôi:

- Nhưng tôi thì làm sao mà có ngần ấy tiền cơ chứ. Nó bị tai nạn thì đã có bảo hiểm rồi kia mà?

Người bác sĩ nói:

- Người chủ đã không mua bảo hiểm lao động cho công nhân. Mà anh ấy cũng không có cả bảo hiểm y tế nữa!...

Lão KiBo cắn chặt môi đến muốn bật máu, lát sau lão thở hắt ra, nói với một giọng dứt khoát:

- Nếu vậy thì cứ để nó tàn phế cũng được. Tôi đây cũng chẳng có tiền để chạy chữa đâu!

Vị bác sĩ mở to mắt nhìn lão KiBo một cách kinh ngạc. Đây là lần đầu tiên ông nghe thấy những lời như vậy từ phía người nhà bệnh nhân. Nếu là một trường hợp vô phương cứu chữa thì khác, đằng này, mọi thứ vẫn hoàn toàn có thể cứu vãn được. Nhưng khi nhìn thấy nét mặt đã đanh lại như một khối thép không rỉ của lão, ông biết là không thể lay chuyển nổi con người sắt đá và lạnh lùng này. Lát sau, ông thở dài, rồi đưa cho chủ nhà một tấm danh thiếp:

- Với trách nhiệm của người thầy thuốc, chúng tôi phải nói vậy. Còn thì tuỳ ở ông. Đây là địa chỉ và số điện thoại của bệnh viện, ông có thể liên hệ sau khi đã suy nghĩ lại…

Nhưng lão KiBo đã không suy nghĩ lại. Lão có gì để phải suy nghĩ kia chứ. Với lão, mục tiêu duy nhất là không để một đồng tiền nào lọt ra khỏi túi của mình, ngoài ra thì dù trời có sập cũng chẳng sao cả. Vì thế mà anh Vương, đứa con duy nhất của lão đã không được điều trị, đành phải trở thành một người tàn phế suốt đời. Cánh cửa tương lai của anh đã hoàn toàn bị đóng sập lại một cách tàn nhẫn sau lưng, bởi sự lạnh lùng và thờ ơ của người bố keo kiệt, coi tiền hơn tất cả. Từ đó anh nằm liệt giường, không cử động và cũng chẳng thể đi đâu, bất động như một hình nhân thực vật.

Chừng hơn một năm sau, anh con trai, vì buồn thảm, tuyệt vọng, bệnh tình ngày càng trầm trọng rồi qua đời. Thế là lão KiBo phải chịu cảnh đầu bạc tiễn đầu xanh.

Đứa con trai duy nhất chết, lão KiBo chỉ nhỏ được vài giọt nước mắt dè sẻn. Tất cả chỉ có vậy. Còn thì sau giây phút ấy, mặt lão lại lạnh như tiền, như thể còn có những công việc khác quan trọng và lớn lao hơn cần phải bận tâm không bằng. Thứ mà lão bận tâm thì ai cũng rõ rồi, đó chính là “Tiền”, cái thứ ấy nó vô cảm, lạnh lùng và tàn nhẫn lắm.

Trong khi những người khác phủ phục khóc thương, lão KiBo chỉ ngồi vò đầu, bóp trán suy nghĩ. Lão nghĩ gì lúc này nhỉ? Thì ra là lão đang lo phải mất tiền để mua quan tài. Thế rồi một ý nghĩ tuyệt vời chợt loé lên trong đầu lão như tia chớp rạch màn đêm. Đang ngồi trên ghế, lão vỗ mạnh vào trán và thốt lên một cách khoái trá:

- Phải rồi!

Sở dĩ lão vui mừng như thế, vì đã giải được nan đề cho cỗ quan tài đứa con trai. Việc này đã có tiền lệ, lão chợt nhớ ra là hồi vợ lão chết, người ta cũng đốn hai cây xoan trong vườn để đóng quan tài.

Thế là lão đứng bật dậy, mặc cho thân xác đứa con vẫn nằm đó lạnh như băng, lão vội vàng đi gọi thợ. Chừng mấy phút sau, hai anh thợ mộc theo lão KiBo vào vườn. Lão chỉ tay vào mấy cây xoan cao lớn ở góc vườn và nói:

- Các anh đốn hai cây xoan này để lấy gỗ mà đóng quan tài nhé. Nhưng nhớ là không được đốn thêm đâu đấy. Vì như thế sẽ thừa gỗ, phí ra!

o0o

Làm đám ma cho con trai xong, lão KiBo lại quay về với cuộc sống đời thường. Lão vẫn điều độ, vẫn dè sẻn và yêu tiền như trước.

Một buổi sáng cuối xuân, khi sương sớm vừa tan, lão KiBo lại thong thả đi ra góc vườn để kiểm tra kho báu của mình như thường lệ. Nhưng khi bước chân vừa dẫm lên những đám lá lạo xạo dưới gốc Thị, lão chợt giật nẩy mình bởi cảnh tượng bày ra trước mắt. Thay vì lớp đất bằng phẳng để nguỵ trang như mọi khi, giờ này cái kho báu của lão đã bị xới tung lên, chỉ còn lại một cái hố sâu hoắm và đen ngòm như huyệt mộ. Không tin vào mắt mình, lão run rẩy khuỵu xuống, rồi cứ thế lê hai đầu gối đến chỗ cái hố để mà nhìn cho rõ. Nhưng cái rương đã bị kẻ trộm lấy đi, không còn nằm ở đó nữa. Trong cơn tuyệt vọng, lão KiBo dùng hai bàn tay chai sần và đen đúa của mình vừa lần tìm, vừa bới tung những nắm đất lên như một con chuột chũi đang hí hoáy đào hang. Vừa bới, lão vừa gào lên như mất trí:  “Tiền tôi đâu?...Tiền tôi đâu?...”

Thế là mất hết, thế là sụp đổ. Lão thấy đầu mình nhức như búa bổ, mắt hoa lên, cây cối xoay mòng. Trời ơi! Đau quá đi mất, đau thế này thì chịu làm sao nổi. “A!...a!...” – Một tiếng thét bất ngờ vang lên thảm thiết, rồi lão đưa hai tay ôm lấy đầu, lảo đảo. Phát hiện ra kho báu của mình đã không cánh mà bay, vị thần giữ của mang tên "KiBo" trứ danh của chúng ta đã lăn đùng ra bất tỉnh.

Lão KiBo không chết, nhưng từ đó, lão bỏ nhà đi lang thang. Trong những buổi sáng sớm hay chiều muộn nơi miền quê vắng vẻ, thi thoảng người ta lại bắt gặp hình ảnh lão lê la nơi đầu đường, xó chợ. Quần áo rách bươm, tóc tai thì rũ rượi, vừa đi, miệng lão vừa lảm nhảm:

- Trả tiền ta đây!...Trả tiền ta đây!...

 Người ta nói rằng, lão KiBo đã phát điên vì tiếc của.