Thứ Ba, 18 tháng 12, 2018

Hương Học Trò

Trên những cành cây lung linh sắc nắng, Phượng đã nở đỏ rực cả khung trời như thắp lửa. Khắp chốn, lũ ve sầu đang cùng nhau tấu lên khúc nhạc mùa hè rộn rã. Những thanh âm ấy như giục dã lòng người, như không ngừng nhắc nhở ta về vòng quay của thời gian vô tận. Ngày mai đây, chỉ còn một buổi cuối cùng nữa là kết thúc năm học rồi. Với Minh, tuổi học trò vậy là đã lùi vào dĩ vãng, chính thức khép lại mười hai năm miệt mài đèn sách của anh. Mấy bữa nay, lên lớp ai cũng nói chuyện tương lai và những dự định cuộc đời. Người ta trao cho nhau cuốn sổ lưu niệm, ghi lại những cảm xúc, những nét chữ quen thuộc của bạn bè thân thương. Hôm qua trong lớp học, anh thấy Yến Nhi nhìn mình khác lắm. Đôi mắt đen láy của cô như xoáy vào tâm can anh, như dường ẩn chứa một nổi niềm sâu kín còn chưa kịp tỏ bày, thổ lộ.

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

Công dụng của chiếc Ống Khói

Mấy bữa nay, sáng nào Việt cũng ngồi trên chiếc ghế bành để mà ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài một lúc. Đôi mắt đen buồn rầu, như thể đang lơ đãng đếm từng giọt thời gian chầm chậm qua đây. Trên khuôn mặt nâu sạm và khắc khổ ấy, hiện lên một vẻ cam chịu thường trực, cũng có thể là sự khuất phục trước số phận nghiệt ngã đang không ngừng đeo bám lấy anh. Qua ô cửa sổ, cái khung cảnh quen thuộc lại hiện lên như một bức tranh sống động. Vẫn là những ngôi nhà đối diện với cái ống khói cao vút phía trên mái, thấp thoáng sau đám cây sồi cao lớn lực lưỡng. Con đường nhựa phía trước chạy ngoằn ngoèo như một nét vẽ, mà chính anh cũng chẳng thể nào biết được là chúng sẽ dẫn đến những đâu. Hình ảnh khiến anh cảm thấy ấn tượng và gợi nhớ quê nhà nhất, ấy là những hàng rào bằng gỗ chỉ cao ngang tầm thắt lưng, được người ta dựng lên để ngăn cách các khu vườn với nhau. Dường như sự khác biệt giữa các quốc gia chỉ hiện diện ở những thành phố lớn, còn khung cảnh thôn quê thì đâu cũng vậy, cũng thơ mộng và yên bình. Vùng này cư dân thưa thớt, thường thì những ngôi nhà cách xa nhau cả một bãi cỏ rộng thênh thang, vì vậy mà ít có sự qua lại giữa hàng xóm láng giếng với nhau lắm. Thời tiết lạnh khiến cho vũng nước trước nhà bị đóng băng, phản chiếu như một tấm gương lấp lánh. Bầu trời mùa đông u ám, cảnh vật chìm trong màn sương trắng xóa, bồng bềnh như đang trôi trong mây.

Suốt cả tuần, Việt và mấy người bạn của anh chỉ ở lì trong nhà như những gã tù nhân tại gia. Họ đốt lò sưởi và nấu ăn, rồi lại ngồi tán gẫu với nhau để mà giết thời gian. Năm người họ ở chung một nhà, đều là những lao động nhập cư bất hợp pháp đến từ đất nước Việt Nam. Việt, Cường là người miền Bắc, còn Mạnh, Hoan, Châu lại sinh ra và lớn lên ở dải đất miền Trung nắng gió. Trời Tây đối với họ thật lạ lẫm, không có người quen biết, cũng chẳng thông thạo ngôn ngữ bản địa một chút nào. Sợ bị cảnh sát kiểm tra, lại đối mặt với tương lai bất định, họ luôn phải sống trong tâm trạng thấp thỏm, lo âu. Như những thân cây nương tựa vào nhau để sinh tồn trong giông bão, mấy người họ đối xử với nhau thân thiết như thể là anh em một nhà. Việt lớn tuổi hơn, tính cách lại nghiêm nghị, được mấy người kia coi như anh cả. Trong tình cảnh bơ vơ ấy, điểm tựa và niềm hy vọng duy nhất của họ lúc này chính là anh chàng môi giới lao động. Thi thoảng lại thấy anh ta xuất hiện, mang đến ít đồ ăn nhanh, nói mấy câu trấn an chiếu lệ rồi lại lủi đi đâu mất. Hắn bảo họ là hãy chịu khó chờ đợi, và hứa khoảng vài tuần nữa thì sẽ có việc làm. Nơi đây vắng vẻ và yên bình đến độ lắm lúc cảm thấy buồn chán. Và rồi thời gian cứ thế trôi qua trong tẻ nhạt, cùng với cái rét buốt của mùa đông khắc nghiệt nơi xứ sở sương mù(1).

Rảnh rỗi, buồn chán và chẳng biết làm gì lúc này, bốn anh chàng kia bèn trãi tấm đệm ra giữa nhà để đánh bài quỳ với nhau. Thi thoảng họ lại hứng chí mà hò reo một cách vô tư lự như thể hồi còn bé đi chăn trâu ở quê vậy. Việt thì chẳng tham gia trò ấy, thay vào đó, chiếc ghế bành đặt cạnh cửa sổ là nơi mà anh ưa thích nhất. Anh thường ngồi đó một mình để suy ngẫm và hồi tưởng lại những tháng ngày đầy biến động đã qua của cuộc đời mình. Đôi lúc, dòng suy nghĩ như một cuốn phim, cứ hiện ra trước mắt những hình ảnh vốn dĩ đã quen thuộc tự bao giờ. Việt vốn là trụ cột trong một gia đình nông dân, bản thân lại không thể nuôi nổi vợ con vì ruộng vườn ít và thu nhập kém cỏi. Mấy người ở đây cũng mỗi người một hoàn cảnh, nhưng tất cả đều lâm vào tình thế khốn cùng không lối thoát như anh. Túng thế làm liều, họ đành phải mạo hiểm dấn thân vào giấc mộng đổi đời nơi trời Tây(2) xa xôi vô định. Cái nơi mà trước đây họ chỉ được biết qua phim ảnh và những bản tin thời sự vẫn thường trình chiếu trên màn hình ti vi mỗi tối.

Tranh thủ lúc chia bài, anh chàng Hoan bèn tiến đến chỗ chiếc vòi rumine để lấy nước uống. Thấy Việt vẫn ngồi chống cằm mà tư lự nhìn ra ngoài, anh ta liền tếu:

- Định làm thi sĩ hay sao mà mơ mộng vậy ông anh? Ngoài kia lạnh lẽo, có gì ngoài băng tuyết và con đường vắng đâu mà nhìn với chả ngắm chứ?

- Dù sao phong cảnh ở đây cũng khác xứ mình, thấy lạ thì ngắm thôi. Với lại cũng buồn, chẳng biết làm gì bây giờ!- Việt thủng thẳng đáp, vẫn ngồi yên mà chẳng buồn quay sang nhìn người đối thoại. Rồi anh thò tay vào túi lấy ra bao thuốc lá, rút một điếu và chậm rãi châm lửa hút.

- Vậy thì xuống chơi bài với bọn này! – Hoan lại gạ.

- Thôi tha cho tớ! Các cậu gào thét ầm ĩ cứ như những thằng rồ ấy.

- Thì cũng như cậu thôi. Buồn chẳng biết làm gì mà – Hoan cười chống chế. Nghe tiếng mấy anh chàng kia gọi, anh ta liền đặt vội chiếc cốc xuống bàn rồi nhanh nhảu quay trở lại chiếu bài.

Tính Hoan táo tợn và nóng nảy, lúc nào cũng ăn to nói lớn, chẳng hề biết kiêng dè ai cả. Bữa trước cũng chính anh ta đã cự cãi với tay môi giới lao động. Anh dọa hắn rằng, nếu không đưa họ đi làm sớm, sẽ tố cáo hắn với cảnh sát về tội lừa đảo và buôn người. Dĩ nhiên là anh chàng chỉ dọa thế thôi, chứ bản thân họ là những người nhập cư bất hợp pháp, nếu trình báo cảnh sát thì chẳng khác nào lạy ông tôi ở bụi này hay sao. Ngẫm cũng buồn cười thật. Tuy nhiên, những lời đe dọa của Hoan cũng khiến cho gã môi giới cuống lên vì sợ hãi, vì thế mà hắn phải hứa là sẽ cố gắng đưa họ đi làm sớm hơn.

Cho đến giờ này, chuyến đi vừa qua vẫn còn là nổi ám ảnh khó phai trong ký ức Việt. Đầu năm 2008, anh được những kẻ môi giới lao động tổ chức đưa đi nước ngoài. Từ Việt Nam, họ mua vé bay sang Hungary. Lúc đến nơi, chỉ được nghỉ ngơi vài hôm, họ lại phải vội vã lên đường đi sang Anh ngay. Tại đây, những người lao động như anh được người ta lùa vào một cái thùng xe tải kín mít. Có đến cả mấy chục người như vậy, bị nhét chặt như nêm trong cái thùng hình khối chữ nhật đáng nguyền rủa ấy. Bên trong tối om, ngay cả mặt mũi người bên cạnh cũng chẳng thể nào nhận ra được. Họ lại được dặn là phải im lặng để khỏi bị cảnh sát phát hiện. Cứ thế, tất cả đứng im bất động như những pho tượng gỗ được đặt cạnh nhau. Chẳng ai cảm nhận được gì, ngoài hơi thở nóng ấm và đều đặn của những người xung quanh. Có lẽ đó là thứ duy nhất khiến họ nhận ra mình vẫn đang tồn tại. Đến đường hầm qua eo biển Manche, người ta lại đưa xe tải lên tàu để chở qua đầu bên kia. Có cảm giác lúc này, họ chỉ là một một món hàng di động, không hơn không kém. Chắc chắn đó sẽ là một chuyến đi mà suốt đời này Việt sẽ chẳng thể nào quên được. Nó gợi lên cho anh một cảm giác vừa sợ hãi, vừa nhục nhã, đắng cay. Khi đến nước Anh, những người trên chiếc xe tải đó lại bị chia thành từng nhóm khác nhau. Riêng nhóm của Việt thì được người ta đưa đến đây, một vùng nông thôn hẻo lánh thuộc miền Nam nước Anh xa xôi này.

o0o

Hoan vung tay đánh mạnh quân bài, rồi xướng lên:

- Át cơ!  

- Ăn con này!...Ù rồi! – Châu reo lên thích thú.

Cả nhóm liền vỗ tay đen đét và đồng thanh hô vang: “Quỳ lên! Quỳ lên!...”. Không khí lúc này vui nhộn chẳng khác nào trong một buổi cổ vũ bóng đá ngoài trời cả. Hoan mặt mày ỉu xìu, rồi trước sự hò hét nhiệt thành của đám bạn, anh chàng đành phải miễn cưỡng quỳ lên.

Vừa khi ấy, chợt có tiếng gõ cửa dồn dập vang lên ở phía phòng ngoài. Tiếp đó là những tiếng hô gấp gáp:

- Open door!…Open door!...

Qua khung cửa kính mờ mờ, họ nhìn thấy lố nhố những cảnh sát mặc sắc phục đang đi lại bên ngoài. Tất cả lập tức im bặt và nhìn nhau hoảng hốt. “Cảnh sát!” – Hoan thốt lên kinh hãi, rồi nhanh tay vơ vội bộ bài nhét vào túi áo. Năm người nhìn trước ngó sau, nhưng chẳng tìm thấy chỗ nào kín đáo cả. Cuối cùng, họ đành phải bảo nhau chui lên chiếc ống khói để ẩn nấp. Bên trong ống khói có những đường gờ được xây nhô ra, đủ để cho họ có thể leo lên và đứng trốn ở đó.

Bên ngoài, đám cảnh sát chờ hồi lâu không thấy mở cửa, liền hè nhau phá ổ khóa xông vào. Khi vào đến nơi, đến lượt mấy viên cảnh sát trố mắt ngạc nhiên, trước mắt họ lúc này chỉ là một căn phòng trống không. Cho rằng có người đang ẩn nấp ở đây, họ hăng hái lục lọi và tìm kiếm khắp mọi ngõ ngách, nhưng rốt cục vẫn chẳng thấy tăm hơi gì cả. Cuối cùng, mọi ánh mắt nghi ngờ đều đổ dồn về phía chiếc ống khói nơi góc nhà. Đó là chỗ duy nhất để có thể ẩn nấp trong căn phòng này. Một viên cảnh sát to béo có cái sống mũi gồ chậm rãi tiến đến, anh ta cúi thấp người rồi căng mắt ngó lên phía trên ống khói. Nhưng trong đó tối đen như mực, chẳng thể nhìn thấy gì hết.

Viên cảnh sát trưởng nhún vai bất lực:

- No way! (Không thể nào) - Rồi vẫy tay ra hiệu cho cả đội cùng rút lui.

Họ có cảm giác như vừa mới đột nhập vào một ngôi nhà ma. Thật quái lạ, rõ ràng là vừa nghe có tiếng người ồn ào phía trong, nhưng khi vào đến nơi thì lại chẳng có lấy một bóng người nào cả.

Một lúc không còn nghe thấy tiếng động phía dưới, áng chừng đám cảnh sát đã bỏ đi, năm người nhập cư mới dám từ từ chui ra khỏi nơi ẩn nấp. Sau một hồi đứng im bất động trong ống khói chật hẹp, giờ đây tay chân họ trở nên tê cứng vì bị chuột rút. Cả nhóm thở phào nhẹ nhõm, rồi ngơ ngác đứng nhìn căn phòng vừa mới bị người ta xới tung lên như một bãi chiến trường. Lại là anh chàng Hoan táo tợn, chẳng hiểu vì sao mà đột nhiên ôm bụng cười ngặt nghẽo, như thể là vừa nhìn thấy một điều gì đó ngộ nghĩnh lắm không bằng.

Việt nhìn Hoan, cau có:

- Vô duyên vừa thôi ông tướng! Suýt nữa thì bị cảnh sát tóm cổ cả lũ rồi. Như vậy mà cũng cười được nữa.

Mặc cho Việt cáu gắt, Hoan vẫn cứ thế mà cười như ma làm. Thật lạ, ngay cả mấy người kia lúc này cũng bắt đầu cười theo anh ta một cách khoái trá nữa chứ.

Thấy sự thể ngang trái như vậy, Việt dậm chân bực bội:

- Các người có điên không vậy? Cười cái gì kia chứ?

Thấy ai cũng chỉ tay vào mặt mình, bấy giờ Việt mới hơi ngờ ngợ. Bất giác anh đưa tay lên sờ mặt, rồi vội vàng đi đến chỗ chiếc gương để xem thử có chuyện gì xẩy ra. Qua phản chiếu của tấm gương, Việt thấy mặt mình bám đầy những bụi khói đen sì, như thể là khi người ta vẽ râu để diễn tuồng vậy. Lúc này anh mới để ý, thì ra ai cũng bị ám khói như vậy cả, người ở mặt, kẻ khác thì chỗ vai hoặc cánh tay. Tự nhiên anh có cảm giác vừa bực mình, vừa buồn cười đến lạ.

Từ hôm đó, họ luôn phải sống trong tâm thế đề phòng và cảnh giác cao độ. Lúc nào đôi tai cũng dỏng lên nghe ngóng động tĩnh, ánh mắt thì luôn hướng về phía cửa sổ để xem có bóng dáng cảnh sát hay không. Mỗi khi có động, cả năm người lập tức chui vào ống khói để mà ẩn nấp như một phản xạ có điều kiện. Giờ đây họ giống như một bầy thú hoang trong rừng, luôn sợ sệt và đề phòng những gã thợ săn có thể đột nhiên xuất hiện bất cứ lúc nào. Nỗi ám ảnh lớn nhất của họ lúc này là bị cảnh sát bắt và trục xuất về nước. Nếu điều ấy thực sự xẩy ra, họ chẳng khác gì ông lão đánh cá trong câu chuyện cổ tích kia(3), lại phải quay trở về với cái máng lợn rách. Mọi thứ sẽ theo đó mà mất hết, tiền bạc, danh dự, và cả những hy vọng tươi sáng về tương lai.

o0o

Việt vừa tung chăn ra khỏi giường thì đã nhìn thấy bốn anh chàng kia ngồi túm tụm bên lò sưởi mà tán gẫu với nhau tự lúc nào. Bên cạnh họ là đĩa xúc xích cắt lát, ngoài ra còn có cả một chai rượu tây đã vơi đi quá nửa. Hôm qua anh chàng Hoan đi ra ngoài mua đồ ăn, nhân tiện còn mang về thêm hai chai rượu cocktail nữa. Có lẽ vì thế mà hôm nay mấy ông tướng bày trò để nhậu nhẹt đây. Việt lẹt xẹt đi ra phòng ngoài, với tay mở cánh cửa sổ cho thoáng để đón không khí đầu ngày. Ngoài trời lạnh, mưa phùn lất phất như rây. Một cơn gió lạnh buốt chợt ùa vào, khiến cho anh phải rùng mình mà đóng sập ngay cánh cửa lại.

Vừa thấy Việt quay vào, Hoan liền rót một ly rượu, lởi xởi:

- Ông anh làm một ngụm rượu Tây nhé!

- Mới sáng ra mà đã rượu với chè rồi! – Tuy nói vậy, Việt vẫn ngồi xuống và đón lấy li rượu mà Hoan vừa đưa.

Hoan cười nhăn nhở:

- Trời rét thế này, còn biết làm gì ngoài việc đốt lò sưởi và uống rượu kia chứ. Ông anh thấy có đúng không nào?

 Việt đưa ly rượu lên môi nhắp một ngụm, rồi nói:

- Ừ! Thơm và ngon thật đấy! Rượu Tây có khác!

 Men rượu thường làm cho tâm tính con người ta trở nên trầm lắng và dễ xúc động hơn. Việt cúi đầu trầm ngâm:

- Những lúc thế này, lại nhớ quay quắt cái không khí ngồi nấu bánh tết ở quê nhà quá!

Câu nói của anh đã chạm đến tình cảm sâu kín của những người đồng hương đang ngồi vây quanh. Không khí chùng hẳn xuống, ai nấy đều ngồi im bất động như những pho tượng la hán trong chùa Tây Phương.

Vốn không chịu được những chuyện u buồn, Hoan tức tối nâng ly rượu tu một hơi cạn.

- Quê cha đất tổ, thử hỏi ai mà không gắn bó? Nếu ở quê nhà cũng có công ăn việc làm ổn định, cuộc sống sung túc đầy đủ, chúng ta đâu phải phiêu lưu mạo hiểm nơi xứ người như thế này kia chứ?

Anh chàng Châu có thân hình mảnh khảnh như một cây trúc, đặt bàn tay gân guốc lên vai Hoan, cất giọng lè nhè:

- Cậu nói đúng lắm! Nhưng mà hoàn cảnh đã vậy rồi. Chúng mình chẳng còn cách nào khác là phải cố gắng kiếm thật nhiều tiền, để còn giúp đỡ cho những người thân nơi quê nhà nữa chứ…

- Nhưng giờ này cũng đã có việc làm đâu? Tương lai thế nào còn chưa biết nữa? Thân tôi thì chẳng tiếc làm gì, chỉ thương cho vợ và đứa con nhỏ phải chịu cực khổ, bơ vơ nơi quê nhà! - Hoan đấm tay xuống nền nhà, nước mắt vòng quanh.

Không còn giữ được bình tĩnh, Châu cáu kỉnh ném nốt thanh củi cuối cùng vào lò sưởi, mặt đỏ gay vì men rượu:

- Đến nước này thì cậu bảo phải làm gì nào? Một liều ba bảy cũng liều. Kể cả nhảy vào nước sôi lửa bỏng cũng phải liều chứ sao!

Ai nấy đều sợ Châu nổi nóng mà nẩy sinh cãi vã lúc này thì hỏng việc. Như thế thì chẳng khác nào mời gọi cảnh sát đến cả. Dĩ nhiên là Việt hiểu điều đó, anh ra hiệu cho tất cả im lặng, đoạn quay sang Châu, ôn tồn:

- Cậu ra nhà kho lấy thêm ít củi để đốt lò sưởi! Nhớ lấy đủ cho cả ngày luôn nhé. Hôm nay có khi nhiệt độ ban đêm xuống đến âm độ chứ chẳng chơi.

Có vẻ như Châu vẫn còn đang quyến luyến cái không khí tiệc tùng ấm cúng bên lò sưởi. Cậu ta cũng miễn cưỡng đứng lên, miệng làu bàu:

- Đi thì đi! Thời với chả tiết, lạnh đến tê cứng cả chân tay!...

Châu khật khưởng đi ra phía cửa chính, chiếc áo dạ khoác hờ lên tấm thân gầy guộc, giống hệt như một con cào cào đang xòe cánh bay lên. Vừa xoay nắm đấm mở hé cánh cửa, anh chàng đã vội đóng sập ngay lại, rồi quay ngoắt vào trong như một cơn lốc:

- Có hai chiếc xe cảnh sát..đang…chạy vào đây! – Châu tròn mắt, lắp bắp.

Chẳng ai bảo ai, tất cả cùng bật dậy như những chiếc lò xo.

Việt đảo mắt nhìn quanh, nói như ra lệnh:

- Nhanh!...dập tắt lửa. Nhanh lên!...

Như một cái máy, Hoan lập tức vớ ngay lấy cái xô nước mà dội thẳng vào ngọn lửa đỏ hồng đang leo lét cháy. Lò than réo lên những âm thanh lèo xèo như chảo mỡ đang sôi, rồi vụt tắt ngấm. Rồi chẳng chờ cho than kịp nguội, cả nhóm lại công kênh nhau để leo lên ống khói lẩn trốn. Cảnh tượng chẳng khác gì người ta đang diễn trò trong rạp xiếc cả.

Hai chiếc xe cảnh sát đỗ xịch ngay trước cửa ngôi nhà của những người Việt nhập cư trái phép đang ở. Mấy viên cảnh sát xuống xe, bước lên thềm gõ cửa. Khi phát hiện cửa không khóa, họ liền mở chốt rồi ùa ngay cả vào bên trong.

Mùi khói lò sưởi còn vương vất trong nhà, rõ ràng là có người vừa mới ở đây. Nhưng lạ thay, trước mắt họ lại vẫn là căn phòng trống không y hệt như những lần trước. Với vẻ mặt nghi hoặc, viên cảnh sát trưởng tiến lại chỗ ống khói, rồi đứng ở đó quan sát hồi lâu. Trong lúc ngó nghiêng, bàn tay trái ông ta vẫn không ngừng xoa xoa lên chiếc cằm béo múp míp, như thể là đang suy tính điều gì đó lung lắm.

Từ phía trên, Việt nghe thấy viên cảnh sát nói vọng lên câu gì đó nhưng anh không hiểu được. Lo sợ bị phát hiện, anh lại càng đứng nép sát vào ống khói hơn. Hai cánh tay Việt giang rộng ra, y hệt như một con thạch sùng đang gồng mình bám chặt vào bờ tường nhám xịt. Việt thở hổn hển, tự trấn an: “Tìm một hồi không được, chắc là họ lại chán mà bỏ đi như những lần trước thôi”.

Nhưng lần này thì khác.

Đợi một lúc không thấy tiếng trả lời, viên cảnh sát liền lấy ra chiếc bình hơi cay vẫn mang sẵn bên mình, rồi cứ thế mà xịt xối xả lên ống khói như mưa. Xong việc, ông ta đứng lùi lại vài bước để chờ đợi. Chừng mấy phút sau, có tiếng ho sặc sụa từ trên ống khói vọng xuống. Mấy viên cảnh sát nhìn nhau cười ẩn ý. Rồi chẳng phải đợi lâu, những nạn nhân tội nghiệp của họ cũng phải rời khỏi nơi ẩn nấp. Một, hai…ba, bốn… rồi năm người từ từ chui ra khỏi cái ống khói đen kịt. Vì hít phải hơi cay, nước mắt nước mũi họ cứ thế mà chảy ra dàn dụa. Chỉ chờ có vậy, đám cảnh sát liền túm ngay lấy cánh tay họ, rồi lần lượt áp tải từng người một ra hai chiếc xe đang hụ còi đợi sẵn ngoài kia.

Nền văn minh Châu Âu phát minh ra ống khói là để thông khí cho bếp đun và lò sưởi. Nhưng mỗi thời đại một khác, tám thế kỷ sau(4), những đồng loại của họ đến từ phương Đông xa xôi thì lại không nghĩ như thế. Với họ, công dụng quan trọng nhất của chiếc ống khói chính là để làm nơi ẩn nấp lý tưởng vậy.

________________________________________

Xứ sở Sương Mù(1): Tức là nước Anh

Trời Tây(2): Ý nói Châu Âu.

Truyện cổ tích(3): Câu chuyện cổ tích “Ông lão đánh cá và con cá vàng” của nhà thơ Nga Puskin.

Tám thế kỷ sau(4): Ống khói được coi là bắt đầu xuất hiện trong kiến trúc Châu Âu từ thế kỷ 13. 






Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2018

Hàng Bánh Đa

Cửa hàng mậu dịch quốc doanh là một dãy nhà hai tầng đồ sộ, án ngữ ngay giữa ngã tư của thị tứ đô hội. Đằng xa từ mọi hướng, người ta đã có thể nhìn thấy tòa nhà màu trắng xám trầm mặc nhô ra, nom y hệt như là một con tàu khổng lồ đang bị mắc cạn. Tầng dưới rộng hơn một chút, còn tầng hai thì được xây thụt vào bên trong và lợp ngói âm dương kín kẽ. Chỗ nhô ra phía dưới cũng chính là một dãy hàng hiên, được lợp mái cẩn thận và chạy dọc suốt tòa nhà. Kiểu thiết kế đó rất thuận tiện, vì người ta có thể thoải mái đi lại hay ngồi đợi ngoài hiên mà không còn sợ bị mưa, nắng làm phiền. Ngôi nhà mang dáng dấp kiến trúc kiểu Pháp, vì hồi Pháp thuộc, đây từng là trụ sở của huyện đường.

Bên trong cửa hàng được bày bán các mặt hàng nhu yếu phẩm để phục vụ đời sống con người. Từ kim chỉ, gương lược, cho đến những chiếc lốp và xích líp xe đạp mà ta vẫn đi hằng ngày. Những mặt hàng mà chỉ trong này mới có chứ không thấy bày bán ở ngoài, vì nhà nước giữ thế độc quyền kinh doanh. Không có cạnh tranh thương mại, vì thế mà mọi thứ ở đây đều đắt đỏ, lại thiếu đi tính đa dạng. Lúc nào cũng thấy mấy cô mậu dịch viên ngồi sau quầy với khuôn mặt khó đăm đăm, họa hoằn lắm mới thấy họ vui vẻ với khách một chút gọi là.

 Khách ra vào cửa hàng vẫn thường bắt gặp một bà lão ngồi lom khom quạt bánh đa để bán. Bà ngồi ở cuối hàng hiên, ngày nào cũng vậy, sáng cũng như chiều, miệt mài và cần mẫn. Cạnh đó là một cái thúng đựng bánh đa, bên trên có chiếc mẹt úp ngửa đã bày sẵn những tấm bánh tròn tròn và mỏng dẹt như tờ giấy thủ công. Cái lò than đỏ hồng được đặt ngay trước mặt, mỗi khi có khách mua thì bà mới quạt để cho bánh nóng và giòn. Có lẽ vì bà tên Lan, cho nên người ta vẫn quen gọi là bà Lan Bánh Đa. Chỗ này đông người, cho nên bà bán cũng chạy hàng lắm. Khách đến cửa hàng, sẵn dư mấy đồng tiền lẻ thì mua thêm chiếc bánh đa về cho trẻ con ở nhà. Lắm người vào cửa hàng chẳng mua được gì, nhưng khi quay trở ra thì lại thích mua bánh của bà Lan. Có thể vì giá một chiếc bánh đa chẳng đáng là bao. Nhưng cũng có thể họ muốn được trãi nghiệm cái thái độ phục vụ hòa nhã và tận tình của bà, điều không thể thấy ở những cô mậu dịch viên.   

 Một đứa bé chừng dăm, sáu tuổi lon ton theo mẹ đi cửa hàng, lúc quay trở ra nó cứ nắm lấy tay mẹ mà nằng nặc đòi mua bánh đa. Mẹ nó không cho, đứa bé bèn khóc thét lên mà nhất quyết không chịu về. Dỗ mãi không được, bà mẹ đành phải chiều con:

 - Bà bán cho chiếc bánh đa!

 Bà Lan chậm rãi lấy từ trong mẹt ra một tấm bánh rồi bắt đầu hơ lên than để quạt. Chiếc bánh đa với những hạt vừng li ti bám trên đó, lấm tấm không biết cơ man nào mà đếm xuể. Rồi trong khi tay trái hơ bánh lên lò than, tay phải bà vẫn phe phẩy chiếc quạt nan một cách uyển chuyển như đang làm xiếc vậy. Mùi bánh đa thơm thơm dậy lên, không ngừng khêu gợi khứu giác của những người xung quanh. Lúc này chiếc bánh như được phù phép, cứ thế nó nở to dần ra, người thính tai có thể nghe được cả âm thanh lạo xạo phát ra từ đó. Cái màu đen thẫm ban đầu giờ đây đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một màu trắng xốp diệu kỳ. Những hạt vừng màu đen cũng dần lộ ra, nổi bật trên cái nền trắng phau của bột gạo ấy.

 - Bánh của chị đây! – Bà Lan vui vẻ đưa chiếc bánh vừa quạt còn nóng hổi cho khách.

 - Bao nhiêu tiền vậy bà?

 - Chị cho xin hai ngàn!

 Đứa bé liền nín khóc, nó thích thú cầm cái bánh đa trong bàn tay nhỏ xíu, rồi hớn hở quấn theo chân mẹ để theo về.

 Bánh đa vừa rẻ lại vừa ngon, vì thế mà lũ trẻ chúng tôi vẫn thường thích mua để ăn vặt. Bánh giòn, khi bẻ thì kêu răng rắc, khiến cho cái lỗ tai nghe cũng thích thú chẳng kém gì lúc ăn. Bẻ từng miếng bánh đa nhỏ cho vào miệng, ăn vừa giòn vừa thơm. Cái vị thơm của gạo và bùi ngậy của vừng hòa quyện với nhau, ngon đến khó tả. Đến nổi chúng tôi còn cao hứng mà làm hẳn một bài đồng dao, để rồi thi thoảng lại vừa nắm tay nhau nhảy loăng quăng vừa hát:

 

Hai ngàn một chiếc bánh đa

Vừa thơm vừa dẻo tiền bà trao tay

Than hồng đã sẵn rồi đây

Tay phe phẩy quạt mang ngay về nhà

 

Mỗi khi được người lớn cho tiền, thể nào chúng tôi cũng rủ nhau ra mua bánh đa của bà Lan bằng được mới thôi. Phải nói là những chiếc bánh đa có một ma lực nào đó hút hồn bọn trẻ chúng tôi đến lạ kỳ. Bất kể nắng mưa hay mùa đông giá rét, bà Lan vẫn ngồi bán hàng nơi mái hiên nhà mậu dịch. Lắm khi trời mưa tầm tả, chúng tôi vẫn thấy bà ngồi đó, cái dáng lom khom, gầy gò thấp thoáng sau màn mưa. Những lúc như vậy thường không có khách, bà ngồi thu lu một mình bên gánh hàng rồi nhìn ra ngoài trời mưa, đôi mắt thoáng buồn man mác. Năm thì mười họa, mới thấy bà Lan nghỉ bán hàng một buổi. Chẳng cần phải hỏi, người ta cũng biết ngay là bà đang có việc, hoặc chỉ vì bị mệt nên mới không đi được mà thôi.

 Tôi hay mua bánh đa, vì vậy mà bà Lan đã quen mặt. Mỗi khi thấy tôi xuất hiện, bà lại mỉm cười hiền hậu như là một lời chào đầy thân mật và ý nhị.

 Một lần tôi ngây thơ hỏi bà:

 - Bà ơi! Suốt ngày ngồi ngoài đường thế này mà bà không thấy mệt hả bà?

 Đôi mắt mờ đục của bà nhìn tôi âu yếm, rồi cất giọng nhẹ nhàng:

 - Cũng mệt nhưng bà thấy vui. Bà ngồi đây, nhìn người xe qua lại đã quen. Như vậy có nghĩa là cuộc sống vẫn đang vận động cháu ạ. Nếu nghỉ ở nhà thì bà chẳng biết làm gì, buồn lắm!

 Hồi đó quán hàng còn ít, cả xóm chỉ có vài cái quán bán hàng vặt với những thức đơn giản như kẹo lạc, kẹo vừng, vài gói bánh quy cùng với bao thuốc lá. Cho nên hàng bánh đa của bà Lan cũng được người ta nhớ đến nhiều lắm, nhất là lũ trẻ như chúng tôi. Nhà ai có công buổi gì cũng hay ra mua bánh của bà, đơn giản vì bánh đa ăn kèm được với nhiều thứ, lại là một thức dùng để nhắm rượu rất tiện.

 Bà Lan vốn là dân ngụ cư và cũng không có chồng con gì cả. Dáng người bà mảnh dẻ, mái tóc bạc trắng với hàm răng đen đều đặn, lấp lánh như hạt na. Thường thì bà vẫn vừa ngồi bán hàng vừa nhai trầu bỏm bẻm, như là một cái thú vui thường trực của người già. Tính bà hiền, ít nói, chứ không liến thoắng như nhiều người bán hàng khác vẫn thường thấy. Dường như quê bà Lan ở tận ngoài bắc thì phải. Khi chúng tôi lớn lên thì đã thấy bà ngồi bán bánh đa chỗ này, chẳng biết là bà vào đây từ khi nào và vì lý do gì nữa. Xóm tôi lúc ấy có nhiều người ở nơi khác đến sinh sống và lập nghiệp lắm. Người ngoài bắc có, người trong tỉnh cũng có, tất cả đều ở ngoài mặt đường quan hoặc gần chợ mà ít khi thấy họ vào ở sâu trong làng. Thi thoảng người ta lại nghe bà Lan nói tiếng bắc, đối với chúng tôi thì cái giọng đó nghe có vẻ ngồ ngộ, vì nó giống với lời đối thoại của những nhân vật trong các bộ phim được chiếu trên màn ảnh rộng. Ngoài những điều đó ra, chúng tôi không hề biết gì hơn về bà cả.

 Lũ trẻ chúng tôi đi học về, mỗi khi nhìn thấy tấm áp phích bằng giấy màu dán ở ngã tư là biết thể nào cũng có đoàn chiếu phim sắp đến. Từ đằng xa mấy đứa đã mừng hú, hò nhau ba chân bốn cẳng chạy một mạch tới để xem. Dòng chữ đầu tiên mà chúng tôi để ý là địa điểm, rồi sau đó mới đến tên phim là gì. Thường thì người ta vẫn hay đề luôn thể loại phim ở cuối tờ quảng cáo, chẳng hạn như phim tâm lý tình cảm, phim chiến đấu, phim thần thoại…; lũ trẻ vẫn khoái nhất là phim truyện chiến đấu, bởi nó hợp với tâm lý hiếu động của lứa tuổi. Hôm nào mà có phim màu nữa thì lại càng thích, vì hồi những năm 1980 ở ta còn ít phim màu lắm, chủ yếu là phim đen trắng thông dụng.

 Những hôm có chiếu phim, chúng tôi ăn cơm từ sớm rồi háo hức rủ nhau đi xem. Lũ con nít thấp người, phải đi sớm một chút để ngồi hàng phía trước thì mới nhìn thấy rõ màn ảnh. Trước khi vào bãi, tôi và đứa bạn trong xóm thường ghé hàng bà Lan để mua bánh đa. Rồi chúng tôi bẻ bánh thành những miếng nhỏ cho vào túi, để lúc vào bãi ngồi xem phim thì lấy ra ăn cho tiện.

 Chỗ cổng ra vào bãi chiếu phim, người ta lấy tre nứa rào chặn hai bên, chỉ còn để chừa một lối hẹp cho khách đi ở giữa. Tại đây, có hai người soát vé đứng đợi sẵn, nét mặt lầm lì nom đến phát sợ. Cách đó chừng dăm mét, một cô bán vé ngồi dưới cái bóng đèn điện sáng trưng, dáng vẻ thờ ơ, uể oải. Lũ nhỏ chúng tôi được vào bãi, còn cánh thanh niên và người lớn thì phải mua vé. Khách mua vé xong rồi thì từ từ mà đi vào phía trong. Sau khi nhận lấy vé từ tay khách, người soát vé lập tức xé ngay. Những mảnh giấy lả tả rơi xuống, một lúc đã trắng xóa đưới mặt đất.

Bên trong bãi, chiếc máy nổ cũ kĩ chạy phành phạch, nghe đinh tai nhức óc. Trên hai chiếc cột bằng nứa, người ta mắc một chiếc phông màu trắng khổ rộng có viền đen. Áng chừng khoảng giữa của chiếc phông ấy, một chiếc loa công suất lớn được cột chặt vào thân cây nứa, hướng quay về phía khán giả. Phim thì được đựng trong những cái hộp bằng sắt hình tròn có đường kính độ vài gang tay. Mỗi hộp như vậy là một tập được đánh dấu theo số. Chúng tôi có kinh ngiệm, cho nên chỉ cần nhìn vào số hộp là biết được ngay phim có độ dài hay ngắn. Tiếng trò chuyện lúc này rộ lên huyên náo khắp bãi. Người ta lớn tiếng gọi nhau để tìm chỗ ngồi, để đưa cho nhau một chiếc ghế nhỏ. Thế rồi chiếc máy chiếu phim bắt đầu chạy rè rè, bóng đèn điện vụt tắt, những hình ảnh đầu tiên xuất hiện trên màn hình. Tiếng ồn ào lắng dần, người ta cùng hướng ánh mắt về phía chiếc phông để chăm chú theo dõi bộ phim. Nội dung phim hấp dẫn khiến cho người xem bị cuốn hút. Thế rồi người ta lại ồn ào, lại bàn tán. Trong khi mọi thứ đang hào hứng như thế, bổng dưng âm thanh và màn hình phụt tắt. Mọi người ngơ ngác một lúc rồi chợt hiểu: Đứt phim. Vậy là cả bãi lại phải chờ cho đến khi người ta nối xong phim thì mới được xem tiếp những hình ảnh nhì nhằng, chắp vá. Ít khi có một buổi chiếu phim nào diễn ra trọn vẹn. Mà lúc thì đứt phim, khi lại hỏng máy chiếu, máy nổ.

 Tối nay chúng tôi xem một bộ phim thần thoại, vì vậy mà không thấy gì hấp dẫn cho lắm. Trong lúc chờ đến tập phim tiếp theo, đứa bạn lắc đầu chán chường:

 - Phim bữa nay chán quá! Chẳng có đánh nhau gì cả…

Rồi cả hai đứa lại thò tay vào túi, lấy những mẫu bánh đa ra nhai rau ráu để mà giết thời gian.

 Thế rồi dạo này bà Lan bánh Đa đột nhiên thay đổi địa điểm bán hàng. Người ta không cho bà ngồi bán ở chỗ cửa hàng mậu dịch nữa, lý do là vì sợ bà làm vướng chân khách ra vào. Chỗ mới này cũng ở trong xóm, nhưng cách ngã tư chừng vài trăm mét. Một người quen thương tình, cho bà mượn bãi đất trống phía trước nhà mình để bà có chỗ ngồi bán bánh. Ở đây tuy không đô hội như chỗ ngã tư, nhưng bù lại rộng rãi và thoáng mát hơn nhiều. Bà Lan thuê người lợp một cái chái bằng tranh để mưa gió khỏi hắt vào, lại còn kê thêm vài bộ bàn ghế con con cho khách ngồi nữa. Có diện tích rộng, bà đặt hẳn một cái chõng tre đằng trước, rồi tha hồ bày la liệt những bánh đa lên đó. Quán có mái che nhưng xung quanh lại là không gian rộng mở để đón gió trời. Thoạt nhìn, quán bánh đa của bà trông chẳng khác nào một cái tửu điếm dân dã ngoài trời vậy.

 Bữa ấy được chị sai đi mua bánh đa, tôi cầm tiền rồi thủng thẳng đi ra quán bà Lan. Lúc đến nơi, đã thấy có mấy đứa con nít nữa cũng đang xúm xít ngồi chờ đến lượt mình. Lại có cả ông lão Quang trong xóm đang ngồi uống rượu một mình. Trên bàn có một chai rượu trắng đã vơi quá nửa, chiếc bánh đa bẻ dở với những mảnh vỡ rơi tung tóe xung quanh. Ông lão mặc một bộ quần áo lao động đã rách thủng lỗ chỗ, hai ống tay áo xắn cao lên đến khuỷu tay, để lộ làn da nhăn nheo, đen sạm.

 - Mùa màng năm nay kém bà ạ. Sâu bệnh dữ quá. Lại sợ mất mùa như năm ngoái mất thôi! – Ông nói, mặt đã tím tái vì men rượu, nom lại càng có vẻ khắc khổ hơn.

 - Vậy hả ông? Thế thì tội cho bà con quá! – Bà Lan chép miệng cảm thông, trong khi tay vẫn quạt bánh đều đều.

 Khác với ông lão, bữa nay bà Lan diện một cái áo kiểu bà ba màu xanh lơ, nom thanh nhã và tươm tất lắm.

 - Mất mùa, lúa cũng mất giá. Nói vô phép, không có con cái gì như bà mà lại hay. Nhà tôi có tám miệng ăn, thời buổi này tay làm hàm nhai đã khó, lấy gì mà nuôi thêm lũ con nheo nhóc nữa hở trời? – Ông lão thở dài đánh thượt, tiếng than nghe đến là não nề.

 - Thế ông có định kiếm thêm việc gì làm để nuôi các cháu không?

     Mặt lão Quang nhăn nhúm vì đau khổ:

 - Người ta không cho buôn bán, lại còn ngăn sông cấm chợ. Như vậy thì mình còn biết làm gì được hả bà? Dễ mà nhìn nhau chết đói mất thôi!

 Lão lại vớ lấy chai rượu, rót đầy chén mà cầm lên tu một hơi cạn ráo. Mùi rượu thơm thơm, cay nồng xộc thẳng lên mũi. Rồi lão bẻ một miếng bánh đa, bỏ vào miệng mà nhai rau ráu như muốn quên đi tất cả sự đời.

 - Chẳng dấu gì ông. Gia đình chúng tôi ngoài đó cũng đông con lắm. Tôi là con thứ hai trong gia đình, ngoài ra còn năm người em nữa. Nhà nghèo, lại gặp chiến tranh loạn lạc cho nên sơ tán mỗi người một nơi. Nhiều lúc tôi cứ nghĩ, thân phận con người lúc này thật chẳng khác chi một cánh bèo trôi ông ạ! Vừa rồi gia đình mới nhận được tin đứa em út sinh sống trên Thái Nguyên, nó lấy vợ rồi sinh con ở đó – Bà Lan thong thả kể, nét mặt buồn buồn, dường như bà đang xúc động lắm thì phải.

 Ngừng một lát để đưa bánh cho khách, đoạn bà lấy hai ngón tay quệt quệt đám nước trầu còn vương trên mép, kể tiếp:

 - Nghe đâu nó làm nghề mộc để mưu sinh, cuộc sống cũng tạm ổn. Nam Định quê tôi vốn có nghề mộc nổi tiếng mà ông. Đàn ông con trai, gần như ai cũng biết làm mộc cả. Thế mà thành ra lại hay. Gặp lúc tha phương cầu thực, có cái nghề làm vốn để tự nuôi thân.

 “À! thì ra bà Lan quê Nam Định” – Tôi tự nhủ, như vừa phát hiện ra một điều gì đó mới mẻ và hệ trọng lắm vậy.

 Chẳng hề để ý là ông lão có đang nghe mình hay không, giọng bà Lan vẫn cứ đều đều:

 - Năm ngoái cả gia đình tôi đoàn tụ, nhưng vẫn còn hai người nữa hiện chưa biết ở đâu, sống chết thế nào…

- Sao gia đình bà không đăng tin tìm người thân trên đài ấy? – Lão Quang bẻ một miếng bánh đa, sốt sắng hỏi.

 - Cũng đã đăng rồi. Nhưng vẫn chưa có kết quả gì ông ạ! Coi như là mất tích!...

 Dường như bị câu chuyện của bà Lan làm cho cảm động, lão Quang lại nâng chén rượu mà uống cạn một hơi. Lần này thì có vẻ như lão đã hơi ngà ngà say.

 - Bữa nay ông đã uống nhiều rồi. Thôi đứng uống nữa! Cố gắng giữ sức khỏe để còn lo cho các cháu – Bà Lan nhìn lão, giọng đầy ái ngại.

 Lũ trẻ đã mua được bánh mang về, chỉ còn lại một mình ông lão Quang vẫn ngồi gật gù với be rượu sắp cạn trong tay.

 - Bà cho thêm cái bánh nữa về cho trẻ con!

 Lão Quang cầm cái bánh từ tay bà Lan, rồi lấy tờ tiền nhàu nát từ trong túi áo ra trả. Đoạn lão cầm lấy chai rượu, đứng lên mà xiêu vẹo đi về nhà.

 - Bánh của cháu cũng được rồi đây! – Bà Lan nói nhẹ nhàng, rồi chậm rãi đưa bánh cho tôi.

 Bẵng đi một thời gian. Nghe người ta nói dạo này bà Lan ốm nặng lắm, đến nỗi không còn đi lại được nữa. Thế rồi ít ngày sau đó thì bà mất. Lúc ấy, cạnh bà chẳng có lấy một người thân nào cả, chỉ có mấy người hàng xóm vì thương tình mà đến để thăm hỏi, động viên. Từ đó, chẳng còn ai được nhìn thấy cái dáng lom khom quạt bánh đa của bà Lan hàng ngày nữa. Cả những câu đồng dao mà chúng tôi đặt cho hàng bánh của bà, giờ đây cũng không đứa nào còn nhớ. Ngôi hàng bánh cũng trở nên trống trãi, vô tình để mặc cho tháng ngày ngược xuôi và những cơn gió lạnh lùa qua.

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

Những cánh Thư yêu



(Viết tặng những thế hệ xưa cũ, thời mà người ta vẫn còn yêu nhau qua những lá thư tay).
_________________________________________

Trang từ từ rảo bước đến chỗ chiếc thùng đựng thư quen thuộc ngay trước cổng bưu điện. Chiếc thùng sắt màu vàng nhạt, được gắn trên cái cột cao không quá đầu người, phía trên có một khe hở bằng đốt ngón tay để bỏ thư. Nâng nhẹ tấm che để cho khe hở lộ ra, rồi cô cẩn thận bỏ lá thư vào bên trong. Vậy là từ lúc này, lá thư sẽ bắt đầu một cuộc hành trình vạn dặm, với sứ mệnh chuyên chở yêu thương của cô tới anh. “Hôm nay là chủ nhật, có lẽ ngày mai đầu tuần họ mới chuyển thư đi” – Trang nghĩ thầm và quay gót trở ra. Có tiếng còi xe xin đường, cô vội tránh sang một bên rồi men theo vỉa hè, chậm rãi đi về nhà. 

 

Đoạn đường từ bưu điện về nhà Trang chỉ độ vài trăm mét, thế nhưng ở đó là hình ảnh của một cuộc sống thu nhỏ: Một ngôi chợ xép, một rạp chiếu phim, những quán hàng tấp nập người mua kẻ bán, những ngôi nhà san sát, kề nhau. Khoảng giữa phố, có một ngôi quán điện tử mà bất cứ lúc nào đi qua, cô cũng đều nghe thấy âm thanh trò chơi và tiếng cãi nhau ì xèo của lũ trẻ vọng ra từ trong đó. Trên vỉa hè, hai hàng cây bằng lăng xanh tốt được trồng thẳng lối. Cứ mỗi độ hè về, những cánh hoa mỏng manh lại đua nhau nở rộ trên cành, tím biếc cả một khung trời. Cái sắc hoa xao xuyến ấy, dễ khiến cho người ta bồi hồi nhớ về những năm tháng mộng mơ của tuổi học trò đã qua. Con đường này giờ đây đã trở nên quen thuộc với cô, ít ra là từ khi yêu anh. Cứ vài tuần một lần, cô lại đi bộ đến bưu điện để gửi thư cho anh, những bức thư chứa đựng tình cảm yêu thương thầm kín, và cả những thông tin cần thiết để anh có thể hình dung được cuộc sống của cô nơi đây. Cũng có lúc đi công chuyện, nhân tiện cô ghé qua bưu điện, rồi dừng lại ở đó để mà bỏ thư.

 

Trang và Thành yêu nhau đã được hai năm nay, một mối tình xa cách với bao đợi chờ, phấp phỏng. Cô học sư phạm trong thành phố, còn anh là sinh viên luật khoa ở mãi tận thủ đô. Khoảng cách mấy trăm cây số, khiến họ không thể thường xuyên gặp gỡ nhau như những đôi tình nhân khác. Mỗi năm cô và anh chỉ được ở bên nhau vào dịp tết hoặc nghỉ hè. Hoàn cảnh đó, khiến họ phải yêu xa và gửi gắm tình cảm cho nhau qua những cánh thư yêu. Đối với họ, thư là cánh chim, là sứ giả của tình yêu, là sợi dây kết nối để giữ cho tình cảm luôn được nồng nàn, bền chặt.

 

Lúc về đến cổng, Trang bị mấy cô sinh viên thuê trọ bắt gặp. Thế là mấy cô ả quỷ sứ kia hét toáng lên:

 

- Chị Trang đi đâu về đấy? Gửi thư cho người yêu hả?...

 

Rồi họ lại đấm vai nhau thùm thụp mà cười như nắc nẻ.

 

- Thế thì đã làm sao nào? – Trang làm bộ đanh đá trêu lại, nhưng mặt thì đã đỏ dừ lên tự lúc nào.

 

- Thì là đúng chứ sao? – Mấy cô sinh viên lại đồng thanh.

 

Mặt Trang càng đỏ tợn. Một cô mập mạp, nom chừng nghịch ngợm và táo tợn nhất đám, đứng lên làm bộ như đang diễn kịch:

 

- Em nhìn thấy người ấy của chị Trang rồi nhé. Cao…cao như thế này này! – Cô giơ tay rồi nhón nhón người lên để áng chừng. Mấy cô kia lại liếc mắt nhìn Trang, cùng bưng miệng mà cười thêm một trận giòn dã nữa.

 

- Hôm nào mà bắt gặp cô nào đi gửi thư cho người yêu thì chết với tôi nhé! – Trang dứ dứ nắm tay về phía mấy cô gái dọa, rồi ngượng ngùng bước nhanh vào sân và khép vội cánh cổng lại.

 

o0o

 

Vậy là từ hôm Thành đi đến nay đã được hai tháng rồi. Dù thời gian này bận ôn thi học phần, nhưng Trang vẫn cố gắng viết thư đều đặn cho anh. Đôi lúc cô những muốn mình chú tâm hơn vào việc học để có kết quả thi thật tốt. Nhưng rồi rốt cục lý trí cũng không thể nào thắng nổi con tim. Cô lại ngồi vào bàn và cầm bút viết thư cho anh, lại đắm chìm trong những kỷ niệm yêu đương, với những lời thương lời nhớ tưởng chừng như không bao giờ dứt.  

 

Mỗi khi nhận được thư anh, thường thì hôm sau cô sẽ viết thư trả lời rồi mang đi gửi. Cô hiểu rằng, cũng như cô, anh rất mong và đợi thư của người mình yêu. Trong thư, cô luôn động viên anh hãy yên tâm học tốt mà không phải lo lắng gì cho mình. Cô cũng không giục anh về thăm, vì sợ như thế sẽ ảnh hưởng tới việc học tập của anh. Nhưng cô luôn nói về nổi nhớ mong da diết, như một lời nhắc nhở ngầm rằng, khi có điều kiện anh hãy về với em. Ở đây em luôn mong chờ, để được yêu thương anh trong mọi phút giây của cuộc sống. Và rồi sau khi đã gửi thư đi, cô lại phấp phỏng chờ đợi hồi âm của anh. Những lá thư đi - lại, như những mảnh ghép của tình yêu. Mà khi ghép lại với nhau, người ta sẽ thấy được ở đó một câu chuyện tình trọn vẹn, với đầy đủ cung bậc của những giận hờn, nhung nhớ, đắm say.

 

- Cô Trang có thư này! – Có tiếng của chị đưa thư lanh lảnh cất lên.

 

Đang ngồi học bài, Trang bỏ vội cuốn sách xuống bàn rồi hấp tấp chạy ra. Qua khung cửa sổ, khuôn mặt hơi dài và phúc hậu của chị bưu tá thấp thoáng hiện ra.

 

- Thư của Trang đây! – Chị ta nói và luồn lá thư qua cửa sổ.

- Cảm ơn chị!

 

Người bưu tá mỉm cười với Trang rồi quay bước trở ra. Khi cái dáng cao gầy của chị vừa khuất, Trang khép cửa rồi vội vàng quay trở về phòng mình. Cô vừa đi vừa nhìn chằm chằm vào bức thư như bị thôi miên. Đúng là thư của anh rồi, nét chữ bay bổng lãng mạn nhưng cũng rắn rỏi và đầy cương nghị, hệt như là tính cách của anh ngoài đời vậy. Cô ngồi xuống ghế, nhẹ nhàng bóc lá thư ra, trong khi trống ngực thì cứ đập liên hồi không ngớt. Cô hồi hộp vì nhanh chóng muốn biết anh đã viết những gì trong thư. Thư được viết trên giấy màu hồng, có in hình những trái tim lồng vào nhau rất đẹp. Hương thơm từ trang giấy tỏa ra ngan ngát, vì anh viết bằng loại bút bi thơm rất thịnh hành thời bấy giờ. Cô khoan khoái hít hà cái hương thơm dễ chịu từ những nét chữ thân thương, rồi bắt đầu chăm chú đọc.

 

“Mai Trang yêu!

 

Nhận được thư em từ tuần trước, nhưng vì bận học nên giờ này anh mới có thể hồi đáp cho em được. Mong em hãy bỏ qua cho sự chậm trễ ngoài ý muốn chủ quan này. Đầu thư, anh xin chúc em – con chim bồ câu bé nhỏ của anh – luôn xinh tươi và mãi trẻ trung, yêu đời!... »

 

« Chàng gọi mình là con chim bồ câu bé nhỏ kia đấy. Rõ là đồ khéo nịnh đầm » - Nàng tự nhủ, rồi áp lá thư vào ngực mà mỉm cười hạnh phúc.

 

 « …Cảm ơn em vì trong thư đã dặn dò anh nhiều điều. Đừng lo lắng cho anh như một đứa trẻ như thế. Anh có thể tự lo và chăm sóc cho bản thân được mà.

 

Em yêu !

 

Vậy là đã hai tháng kể từ ngày chúng mình xa nhau. Số phận buộc anh và em phải mỗi người một nơi, đó là điều mà những người yêu nhau chẳng bao giờ mong muốn. Nhưng cuộc sống là vậy, chúng ta cũng chẳng thể làm gì khác ngoài việc phải chấp nhận phải không em? Anh chỉ có thể biết được tình cảm của em qua những dòng tâm sự chứa chan, và hình dung ra hình bóng em trong tâm tưởng. Nhưng với anh, đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất, hơn cả những đôi tình nhân đang hằng ngày được gần gũi và quấn quýt bên nhau… »

 

« Tội nghiệp và thiệt thòi cho chàng quá. Cũng chỉ vì chúng ta ở xa nhau. Nhưng ông trời kia bắt phải như vậy. Chúng mình còn biết làm sao kia chứ? » - Nàng tự nói một mình, lòng những nghẹn ngào.

 

o0o 

Thành đặt túi xách xuống vệ đường, rồi ghé mắt nhìn vào bên trong : Cổng khép, cửa cũng khóa im lìm. «Giờ này mà Trang còn đi đâu nhỉ?» - Anh bồi hồi nghĩ rồi ngơ ngác nhìn quanh, cố ý tìm kiếm một người nào đó để hỏi thăm. Vừa khi ấy, cô sinh viên phòng bên cũng đi học về đến nơi. Cô đặt cuốn giáo trình xuống bậc thềm, tra chìa vào ổ và và bắt đầu mở khoá lách cách.

 

Thành tiến lại gần, mừng rỡ:

 

- Xin lỗi! Phiền cho anh hỏi thăm?...

 

- Dạ! Anh cứ hỏi! – Cô gái rụt rè nhìn anh, đáp.

 

- Em biết chị Trang đi đâu không? – Anh nói và chỉ tay về phía cánh cổng.

 

Cô gái ngơ ngác, hết nhìn anh rồi lại nhìn sang nhà Trang, như đang cố đoán xem mối quan hệ giữa hai người là thế nào. Ngó thấy cổng khóa, cô trả lời mà như đang tự vấn:

 

- Cổng khóa. Chắc là chị ấy không ở nhà. Có thể chị ấy đi học? – Rồi cô nở một nụ cười xã giao, nhìn anh như thể thanh minh - Xin lỗi! Em mới đi học về cho nên cũng không biết. Anh thử đứng chờ chị ấy một lúc xem sao!

 

- Cảm ơn em!

 

Phương sốt ruột nhìn đồng hồ: Đã gần mười một giờ trưa. Chẳng hiểu giờ này mà Trang còn đi đâu nữa.

 

- Chị ấy về kia! – Đột nhiên, cô gái nói rồi chỉ tay về phía trước. Thành nhìn theo, thấy Trang đang chậm rãi đi về phía họ. Cô mặc một bộ đồ màu xanh lá cây, nom nền nã và trẻ trung.

 

Trang đã nhận ra anh từ xa, nhưng cô không tỏ ra vồ vập. Có lẽ cô giữ gìn ý tứ vì không muốn biểu lộ những tình cảm thái quá khi đang ở ngoài đường. Khi hai người đã đứng cạnh nhau, cô ngước nhìn anh, rồi cất giọng âu yếm:

 

- Anh đợi em lâu chưa?

 

- Anh vừa mới xuống xe thôi! – Anh đáp. Rồi lại hỏi - Em đi đâu vậy?

 

- Em sang nhà bạn có chút việc.

 

Anh để ý nhìn cô, thấy dạo này cô có vẻ gầy và xanh hơn trước. 

 

- Anh về, sao không viết thư cho em biết? – Cô vừa mở cổng vừa hỏi.

 

Con gái là vậy. Trời nắng mưa thất thường ra sao thì họ cũng y như thế. Anh không về thì cô trách móc, mà về rồi thì cô cũng trách. Nào ai có thể đoán biết và nắm bắt được cái tâm lý của họ ra sao.

 

- Anh được nghỉ vài ngày, tranh thủ về thăm em. Vì vậy mà chẳng kịp viết thư nữa – Thành trả lời, rồi xách túi theo cô vào trong sân.

 

Thành ngồi xuống ghế, đưa mắt nhìn khắp lượt căn phòng quen thuộc. Mọi thứ dường như vẫn thế, chẳng có gì thay đổi kể từ lúc anh đi. Chiếc tủ li đóng theo kiểu tân thời, bên trong được trang trí bằng những cốc chén thuỷ tinh và búp bê, hoa nhựa. Chiếc ti vi hiệu Sanyo đặt trên nóc tủ. Những cuốn sách bìa cứng vẫn nằm yên, ngay hàng, thẳng lối trên giá. Trên các khung cửa sổ, những bức rèm màu tím có viền đăng ten rủ xuống những vệt mờ mờ như in dấu thời gian.

 

- Anh uống nước đi – Hai bàn tay thon nhỏ của cô để ly nước lọc trước mặt anh. Ly nước sóng sánh vì được đặt xuống hơi mạnh, có vẻ như cô đang xúc động.

 

Rồi cô nhẹ nhàng ngồi xuống cạnh người yêu, ngắm nhìn anh, đắm đuối. Đâu còn là tưởng tượng trong thư, giờ này anh đã ở đây, ngay trước mặt cô, bằng da bằng thịt. Vẫn là cái dáng cao lớn, phong trần mà cô rất mực yêu thương ấy. Mái tóc đen dày được chải hất sang một bên rất hợp với vầng trán cao, rộng. Đôi mắt sáng, đẹp, khoé miệng thì cười rất tươi. Thiên hạ họ nói là nhìn anh đẹp như con gái ấy. Cô chỉ muốn thu tất cả vào trong một ánh nhìn, như lo sợ cái hình bóng thân thương kia lại tự nhiên vụt mất đi như ảo ảnh, hư vô.

 

Đáp lại, Thành hôn nhẹ vào má người yêu rồi cúi xuống, lần mở túi xách lấy ra một hộp trang điểm xinh xinh. Món quà mà anh đã cất công tìm mua và cẩn thận để vào đó từ hôm qua.

 

- Tặng em!

 

- Ôi! Đẹp quá! - Cô reo lên, ánh mắt mở to đầy thích thú.

 

Thành hấp háy đôi mắt, nhìn người yêu một cách trìu mến. Anh cảm thấy hạnh phúc mỗi khi cô vui, muốn cô luôn giữ mãi vẻ hồn nhiên háo hức ấy.

 

- Mình ra vườn đi anh! – Cô đứng dậy và kéo tay anh, nũng nịu.

 

Đôi tình nhân nắm tay nhau đi ra vườn, nơi vốn dĩ dành riêng cho họ, thế giới của cổ tích và tình yêu. Họ dìu nhau ngồi xuống chiếc ghế đá mà cả hai đều đã quen thuộc bao ngày. Cạnh đó, cây ngọc lan êm đềm tỏa bóng và rụng xuống đất những cánh hoa tơi tả. Dưới chân bức tường gạch xây trước mặt, những khóm hồng nhung đang nở hoa, xen lẫn những bông cúc hoạ mi tím biếc, rung rinh. Thi thoảng, Trang vẫn cắt những bông hoa ở đây, đem cắm vào lọ rồi để lên bàn học của mình cho đẹp. Cả anh và cô đều rất thích nơi này, một khuôn viên kín đáo, yên tĩnh và đầy mộng mơ.

 

- Anh có nhớ em không? – Cô hỏi và nhìn anh mơn trớn.

 

- Anh nhớ trong mọi phút giây!

 

- Vậy anh nhớ thế nào? – Cô lại hỏi và lấy tay mân mê những lọn tóc lòa xòa trước trán người yêu một cách tinh nghịch.

 

Anh choàng tay ôm vai người yêu, kéo sát cô về phía mình hơn. Cô thì vẫn ngồi yên trong vòng tay anh, ngoan ngoãn và mềm mại như một chú mèo con mới lớn.

 

- Anh hình dung ra cuộc sống của em qua những dòng thư mà em viết. Về khung cảnh ngôi nhà và khu vườn, về con đường mà hằng ngày em vẫn đi đến trường… tất cả…tất cả như một cuốn phim vậy. Em yêu ạ!

 

- Thật chứ anh? – Giọng Trang mơ màng. Rồi cô xoay hẳn người lại, nhìn thẳng vào mắt anh, đờ đẫn. Làn môi căng mọng mở ra, hờ hững, đợi chờ.

 

Anh từ từ đặt môi mình lên môi cô, rồi cả hai cùng nhắm mắt lại. Vòng tay họ siết chặt lấy nhau, vuốt ve theo từng con sóng mãnh liệt của bao tháng ngày khao khát, đợi chờ. Cạnh đó, những đóa hồng đang khẽ đung đưa trong gió, và dưới chân họ, những cánh hoa ngọc lan trắng muốt đã rơi đầy.

 

o0o

 

Lá thư sau cùng Trang gửi cho Thành đã khá lâu, vậy mà cả tháng nay vẫn không có lấy một hồi âm nào của anh cả. Cô phấp phỏng đợi chờ, rồi lại bắt đầu bồn chồn, lo lắng. Vô số những câu hỏi nghi vấn lúc này cứ diễn ra trong đầu cô. Anh không còn yêu cô? Hay anh đã thay lòng? Hoặc như anh đang gặp khó khăn gì trong cuộc sống và công việc chăng? Cũng có thể do bên bưu điện người ta đã làm thất lạc thư? Chừng ấy lý do cứ không ngừng đeo bám lấy tâm trí, khiến Trang cảm thấy căng thẳng và mệt mỏi. Cô muốn ngay lập tức có một lời giải đáp, nhưng tất cả đều vô vọng. Những lá thư hồi âm của anh vẫn bặt vô âm tín.

 

Bữa ấy Trang đi học về, vừa mới dựng xe thì đã nghe mẹ nói:

 

- Con có thư đấy!

 

- Đâu vậy mẹ! – Trang mừng rỡ, quên mất cả giữ gìn ý tứ.

 

- Mẹ để trên bàn, gần chỗ giá sách ấy. Họ vừa mới mang đến lúc nãy - Mẹ cô chậm rãi, cặp kính trắng của bà vẫn dán chặt vào màn hình ti vi.

 

Trang hồi hộp tiến đến chỗ giá sách. Lá thư vẫn nằm yên ở đó, im lìm và bí ẩn. Cô vội cầm lên xem với một vẻ tò mò hết sức. Đúng là nét chữ của Thành rồi, vậy là anh vẫn không quên cô ư? 

 

- Thư của nó phải không? – Bà mẹ nhìn con dò hỏi, nhưng có vẻ bà cũng đã đoán biết mọi chuyện.

 

- Dạ! – Trang đỏ mặt thú nhận.

 

Trang vội vã đi ra vườn, với thế giới yên tĩnh của riêng cô, như để dấu mẹ những lời mà cô sắp đọc ra đây trong bức thư của anh.

 

Cô ngồi xuống chiếc ghế đá, nơi lưu giữ những kỷ niệm êm đềm giữa cô và anh, rồi bắt đầu mở thư ra đọc. Nét chữ trong thư nguệch ngoạc, có thể khi viết, tâm trạng anh đang không được tốt. Trang dường như không tin vào mắt mình khi dòng chữ đầu tiên hiện ra: “Trang thân!”. “Xưa chàng gọi là em yêu!” - Cô cay đắng nghĩ thầm.

 

Rồi cố nén xúc động, cô nhìn vào lá thư, đọc tiếp:

 

“…Anh đã rất khổ tâm khi phải viết những dòng thư này cho em.  Anh biết rằng em sẽ đau khổ, và anh cũng vậy. Nhưng có lẽ đó là số phận em ạ, hoàn cảnh đã như thế, chúng ta cũng chẳng thể nào làm khác được. Ông trời run rủi cho chúng ta yêu nhau, nhưng lại bắt chúng ta phải xa cách. Để rồi gieo chi bao nổi sầu li biệt…”

 

Cô cố ngăn những giọt nước mắt đang chực trào ra.

 

“…Lời cuối cùng anh muốn nói với em: Chúng ta hãy chia tay từ đây. Em hãy coi như ta chưa hề gặp nhau, và tình mình cũng chỉ là một cơn gió thoảng qua trong đời”.

 

Lần này thì nước mắt cô cứ thế trào ra, mà không thể nào ngăn lại được nữa. Còn biết nói gì đây, khi chàng đã quyết định như vậy? Lòng tự trọng của một người con gái không cho phép cô níu kéo hay van nài. Mặc dù trong lòng cô vẫn còn yêu thương anh tha thiết. Ôi! Những lá thư yêu, nó đã ban tặng cho ta muôn vàn hạnh phúc, nhưng cũng chính nó lại mang đến cho ta bao nổi cay đắng vô bờ.

 

Bấy giờ Trang đã đi dạy tại một ngôi trường cấp hai trong thành phố. Hằng ngày cô đi làm bằng một con đường khác. Cô không muốn đi qua bưu điện, nơi có cái thùng gửi thư màu vàng được đặt sát mép đường. Vì cô sợ nó lại gợi nhớ đến anh, đến mối tình của thời sinh viên dang dở. Cái thùng đựng thư màu vàng ấy, ngày trước ngay cả trong mơ cô cũng thường bắt gặp, vậy mà lúc này, tự bao giờ nó đã trở thành một hoài niệm xa xăm.