Thứ Tư, 15 tháng 1, 2025

Bộ bài Tây

 

Chu Thái và Anh Tuấn vốn là một cặp bài trùng nổi tiếng trong làng cờ bạc Hà Tây. Giữa muôn vàn tinh tú của giải ngân hà, họ chính là ngôi sao sáng nhất, là hai con rồng ngạo nghễ vậy. Chu Thái có lối đánh chân phương nên được gọi là “Bạch Long”, còn Anh Tuấn chính là “Hắc Long”, bởi vì trong tay anh luôn sở hữu những ngón nghề ghê gớm và tinh xảo bậc nhất xưa nay. Một đen một trắng, hai người kết hợp với nhau trở thành một cặp song sát hoàn hảo, thiên hạ vô địch. Có tài thì ắt phải có danh, bởi vậy mà họ được giới trong nghề nhất loạt tôn xưng là: “Thần bài đất Bắc”.

Kể từ khi xuất hiện, dù là đấu tay đôi hay chéo cánh, hai người họ chưa bao giờ gặp thất bại. Ngoài cái tài đánh bài vô địch, “Thần bài đất Bắc” còn nổi danh với lối chơi đẹp. Sau mỗi lần thắng cuộc, họ sẵn sàng trả lại tiền cho đối phương nếu xét thấy hợp nhẽ. Nhiều khi họ cũng coi việc đánh bài như là một cuộc tỉ thỉ để lĩnh hội tài năng, chứ không phải là để hơn thua, cao thấp.

Thiên hạ thường kháo nhau về bộ bài tây mà lúc nào “Hắc Long” cũng kè kè mang theo bên mình. Đó chính là vũ khí bí mật, khiến cho họ đánh đâu thắng đấy, hễ chơi là được, hễ ngồi vào chiếu là có tiền. Bộ bài ấy được đánh dấu rất kín, từ con Át cho đến con K. Việc đánh dấu này riêng họ biết, chỉ cần liếc qua là có thể nhận ra ngay đó là quân bài gì. Thành ra, tiếng là đánh bài sấp, nhưng kỳ thực họ đang chơi bài ngửa vậy. Trong lúc ngồi chéo cánh, họ còn có những kí hiệu riêng để phím cho nhau. Nhờ vậy mà họ biết nên giữ lại quân gì, đánh ra quân gì để dẫn dụ đối phương.

o0o

Cho đến tận bây giờ, người ta vẫn còn kể cho nhau nghe về cuộc tỉ thí năm ấy giữa “Thần bài đất Bắc” và hai cao thủ khác từ miền nam ra.

Một buổi sáng cuối thu, hai vị khách xuất hiện trong những bộ âu phục lịch lãm: Giày tây đen, com lê thắt cà vạt, tay xách ca táp căng phồng. Phong thái thật chẳng khác nào những bậc phong lưu tài tử. Ngược lại, “Thần bài đất Bắc” ra mắt với trang phục giản dị như tính cách vốn có của họ. “Bạch Long” khoác lên mình chiếc áo gió trắng, còn “Hắc Long” thì mặc áo đen.

Địa điểm được chọn cho trận so tài là một căn phòng nhỏ được bài trí khá đơn giản. Bên trong bày sẵn nước uống, thức ăn nhanh để đảm bảo trong suốt thời gian thi đấu không ai phải ra đến ngoài. Đúng tám giờ sáng, họ cùng nhau bước vào trong đó. Ngay lập tức, cửa phòng được đóng kín mít, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Trong phòng lúc này chỉ có bốn người họ với nhau, hoàn toàn đảm bảo sự khách quan không thiên vị.

Bốn người ngồi xếp bằng, cách nhau vài gang tay trên chiếc sập gụ nhẵn bóng. Vài giây im lặng, họ gật đầu, lịch sự chào nhau. Sau khi thống nhất thể lệ thi đấu, những lá bài mới cóng bắt đầu được chia thoăn thoắt, lẹ làng và không mảy may sai một li.

Vào trận, hai bên kình nhau, thăm dò nhau, rồi bắt đầu đỡ qua, đánh lại. Mỗi quân bài đánh ra đều phải được tính toán và cân nhắc thật kĩ lưỡng. Chỉ cần một sơ suất nhỏ, sẽ dẫn đến thất bại lớn, vì vậy mà phải hết sức cẩn trọng. Quân bài nào giữ lại thì kín như bưng, nhưng một khi đã đánh ra thì phải như sấm sét nổ ngang trời, khiến cho đối phương không tài nào đỡ nổi. Thật đúng là cao thủ đang xuất chiêu vậy. Trên chiếu bạc lúc này, trán người nào cũng nhíu lại đăm chiêu, hai bên thái dương, mồ hôi rịn ra thành giọt.

Kết thúc mỗi ván bài, họ lại mở chiếc cặp mang theo để thanh toán, bên trong đó được sắp đầy những xấp tiền có mệnh giá cao nhất.

Đương khi đánh, một cao thủ miền nam không kìm được, thốt lên:

- Thật là đỉnh cao! Thật là sảng khoái!...

Không gian trong phòng tĩnh lặng, tịnh không có một âm thanh hỗn tạp nào quấy nhiễu. Chỉ có tiếng hô, tiếng xướng, tiếng những quân bài đánh xuống mặt gỗ nghe tanh tách. Những điếu thuốc thơm được đốt cháy liên tục, cho thấy mức độ căng thẳng và khốc liệt của những ván bài. Thực là vô tiền khoáng hậu. Thực là kỳ phùng địch thủ.

Đến khoảng ba giờ chiều, cánh cửa phòng đột nhiên mở ra. Những ánh mắt tò mò cũng lập tức đổ dồn về phía ấy. Người ta thấy bốn người họ bước ra và đang bắt tay nhau, vừa đi vừa nói cười hỉ hả. Cái cảnh ấy thật hữu hảo, thật phi thường, trái ngược với không khí bất mãn thường thấy của những ván bài lúc tàn cuộc.

Một cao thủ Nam Kỳ khom lưng, bắt tay “Bạch Long”:

- Thật là danh bất hư truyền. Chúng tôi đây xin bội phục! Bội phục!

 Rõ ràng là các cao nhân, tài tử đang gặp gỡ nhau chứ chẳng phải là đánh  bài, đánh bạc gì sất. Ở đó, người ta chỉ thấy toát lên một cái tinh thần cao thượng, nghĩa hiệp, cũng như tấm lòng biệt nhỡn liên tài mà thôi.

Tại sao lại có cái không khí tàn cục vui tươi như vậy? Kỳ thực là toàn bộ số tiền đựng đầy chiếc cặp mà hai cao thủ miền nam mang theo đều đã thua hết, nhưng với tinh thần hữu hảo, "Thần bài đất Bắc" đã hoàn trả cho họ mà chẳng hề giữ lại một đồng xu nhỏ nào cả. 

o0o

Lần nọ, có một gã lái trâu từ vùng khác đến. Khi nghe đến danh “Thần bài đất Bắc” thì hắn tỏ ra bán tín bán nghi. Mới đến hôm trước, hôm sau hắn đã ra mắt “Hắc Long” và yêu cầu được tỉ thí với anh để phân tài cao thấp.

Gã này thân hình cao lớn, mặt vuông, lông mày chổi sễ. Chân gã đi giày khủng bố, người diện nguyên bộ đồ bò bạc phếch, mới nhìn qua đã biết được ngay là dân giang hồ tứ chiếng. Tính gã đam mê đỏ đen, từng lân la bài bạc khắp ga tàu bến xe trên cả nước. Cũng chính vì những thành thích bất hảo ấy mà gã tự tin vào ngón nghề của mình lắm. Đang ôm sẵn một đống tiền đi mua trâu, gã quyết định sẽ đem hết tài năng của mình ra để mà tỉ thí với “Hắc Long” một phen sống mái.

“Hắc Long” không muốn đánh, nhưng thấy gã lái trâu cứ nài nỉ mãi, anh đành phải miễn cưỡng tiếp chiêu hắn. Vả lại, một khi đã trở thành cao thủ, người ta không thể né tránh những lời thách đấu như vậy từ đối phương.

Vì chỉ có hai người tham gia, cho nên họ chọn đánh ba cây.

Vậy là một chiếu bạc đúng nghĩa đã được mở ra. Người ta trãi một chiếc chiếu cói ngay trên thềm gạch men cho hai đối thủ ngồi, ngoài ra, xung quanh còn có thêm mấy người đứng xem và chứng kiến nữa.

Mở đầu, Hắc Long cố tình nhường cho gã lái trâu mấy ván to. Nhìn đống tiền ngồn ngộn dưới chân mình, gã đắc ý nghĩ thầm: “Tưởng thần bài là thế nào, té ra cũng tầm thường thôi!”.

Bắt đầu một ván mới khác. Bàn tay “Hắc Long” lại thoăn thoắt chia bài.

Gã lái trâu giơ ba quân bài của mình lên, hé mắt xem: 3 cơ, 6 chuồn và át cơ. Như vậy là mười nước chẵn, lại có át cơ bảo lãnh.

Gã mừng quýnh, chắc mẫm lần này mình lại thắng to.

Nhưng gã đâu biết rằng, đó chính là kế “Thả để bắt” của “Hắc Long”.

“Hắc Long” hết nhìn những quân bài của đối phương, lại nhìn xuống những quân bài của mình dưới chiếu, trầm ngâm suy nghĩ.

Lát sau, anh ngẩng lên, nhìn xoáy vào mắt đối thủ, nói:

- Chúng ta chơi cũng đã lâu rồi. Bây giờ tôi đề nghị đánh một ván tất tay. Ai có bao nhiêu tiền trong người đều mang ra đánh hết. Ai thắng, ai thua đều nghỉ! Anh thấy thế nào?

Gã lái trâu thấy quân bài của “Hắc Long” vẫn chưa mở ra, trong khi bài của mình lại mười nước, bèn đảo mắt nghĩ: “Hoạ có thần tiên phù hộ thì hắn mới thắng được ván này. Nếu hắn cũng mười nước, lại có át rô bảo lãnh thì mới đè nước bài của mình được. Nhưng xác suất này là rất nhỏ, chỉ độ một phần trăm mà thôi. Hiếm khi xẩy ra lắm!”.

Tin là mình sẽ thắng, gã lái trâu đập mạnh tay xuống chiếu, nói như đinh đóng cột:

- Được! Tôi quyết định đánh nước bài này!

Tất cả những người đứng xem đều hồi hộp, nín thở để chờ đợi.

“Hắc Long” bắt đầu nhón tay, chậm rãi lật các quân bài của mình lên: 4 chuồn… 5 bích…

Còn một con cuối cùng chưa lật, vẫn nằm yên trên chiếu. Mọi ánh mắt đều nhìn chằm chằm vào quân bài ấy, có người còn đưa tay lên che mắt, không dám nhìn thêm nữa. Quá hồi hộp, quá gay cấn.

Lúc này “Hắc Long” mới nhẹ nhàng chạm tay vào quân bài. Sau vài giây nhắm nghiền mắt như thiền định, anh bất ngờ vung tay lật mạnh quân bài lên.

- Át rô! – Những người có mặt nhất loạt vỗ tay, reo lên.

Hai con mắt ốc nhồi gã lái trâu nhìn trân trân vào quân bài mà như muốn nổ tung. Gã không dám tin vào mắt mình nữa: Đúng mười nước, có át rô bảo lãnh. Vậy là nước bài của “Hắc Long” đã đè nước bài của hắn.

“Hắc Long” đã sử dụng tuyệt chiêu. Trên đời, thử hỏi có mấy ai chia được hai ván bài mười nước, mà mỗi bên lại có át cơ, át rô bảo lãnh để dẫn dụ đối phương như thế?

Gã lái trâu sụp hẳn người xuống chiếu như một con thú dữ bị trọng thương. Vậy là cái điều mà hắn lo sợ nhất đã đến, cái xác suất một phần trăm rất nhỏ ấy đã thực sự xẩy ra. Nước mắt nước mũi ròng ròng, hắn quỳ sụp xuống chiếu mà lạy như tế sao:

- Muôn lạy đại ca! Ngàn lạy đại ca! Cả gia tài buôn bán của tôi đều đã thua nhẵn rồi. Vợ con tôi sẽ chết đói mất. Cúi xin đại ca, hãy thương tình mà trả lại tiền cho!...

“Hắc Long” nhíu mày, nhìn hắn một cách thương hại.

Đợi cho hắn dứt lời, “Hắc Long” bèn kiểm lại số tiền mà mình đã bỏ ra, số còn lại, anh trả hết cho gã lái trâu. Đoạn anh nhìn hắn, cất giọng ôn tồn:

- Nể tình vợ con anh, tôi trả lại tiền cho anh. Cờ bạc là bác thằng bần. Từ nay lo chí thú làm ăn, chớ có đam mê bài bạc nữa nghe!...

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2025

Tửu Thần

 Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu

Thoại bất đầu cơ bán cú đa.

(Rượu gặp tri âm ngàn chén thiếu

Tiếng không đồng điệu nửa câu thừa).

Chiều về trên con phố nhỏ. Tuy ánh nắng đã có phần dịu bớt, nhưng cái oi ả của mùa hè thì vẫn còn hầm hập như cố tình đeo bám, như thiêu như đốt con người ta. Trên mặt đường nhựa đen sì vẫn còn vương mùi khét lẹt như đám cháy, thi thoảng mới lại bắt gặp vài chiếc xe máy rồ ga chạy vọt qua. Những người có việc, cực chẳng đã phải đi bộ trên vỉa hè, vừa đi vừa nhón chân bước mau như có ma đuổi. 

Quanh chiếc bàn gỗ cũ kỹ của quán rượu tồi tàn, một đám người đang ngả ngớn ăn nhậu. Trên bàn bày la liệt những đĩa thịt luộc, rồi nào là cổ cánh gà, nem chả... ngồn ngộn. Chúng có tất cả năm tên, đứa nào đứa nấy đều lôi thôi lếch thếch và mặt mày bặm trợn. Ngồi chính vị là một gã râu quai nón mình trần trùng trục, có vẻ là đại ca hay chủ xị gì đó. Cổ áo của gã mở phanh, để lộ bộ ngực nở nang cùng với hình xăm một con chim đại bàng đang cất cánh bay. Nhìn qua đã biết, nếu không phải là lũ vô công rỗi nghề thì chúng cũng chỉ là một phường du thủ du thực. Loại người này chẳng có mục tiêu hay lý tưởng nào khác ngoài việc kiếm tiền và hưởng thụ. Thế nên chẳng có gì làm lạ, khi mà tất cả chúng đều tỏ ra hào hứng và coi thú ăn nhậu là lẽ sống duy nhất ở đời.

Ngôi quán nhỏ lúc này được lấp đầy bởi những tiếng nói cười, những âm thanh hò reo như quỷ ám.

Trong cơn hưng phấn, gã đại ta ngửa cổ tu một hơi cạn chén rượu, mặt mũi đỏ gay, đỏ gắt như mặt trời mọc. Một tên lâu la lập tức giơ ngón tay cái lên và nói bằng một giọng the thé đầy vẻ xiểm nịnh:

- Đại ca đúng là hảo…hảo tửu lượng!

Gã đại ca khoái chí vỗ ngực, nói đến líu cả lưỡi:

- Nói về…về… tửu lượng, ông đây chưa…chưa bao giờ…gặp đối thủ, nhé!...

Những đứa khác mắt đã dại đi vì rượu, nghe thấy thế thì cũng lập tức buông chén, rồi cùng vỗ tay đôm đốp mà rằng:

- Hảo tửu lượng!...Hảo tửu lượng!...

Phía sau quày hàng, người chủ quán tuổi trung niên vẫn ngồi bắt chân chữ ngũ trên chiếc ghế đẩu. Người gã thấp đậm, trên khuôn mặt tầm thường và đen đúa, có lẽ bộ ria con kiến được tỉa tót kỹ lưỡng là điểm nhấn duy nhất đáng để chú ý. Những âm thanh ồn ả do đám bợm nhậu gây ra chẳng hề làm gã bận tâm chút nào. Gã chỉ ngồi lặng yên, ánh mắt lơ đãng nhìn ra phía ngoài đường và thi thoảng lại đưa tay lên che miệng ngáp dài.

Chợt gã hơi nghiêng đầu, đôi tai nhỏ và nhọn hoắt như tai chuột dỏng lên như để nghe ngóng một điều gì đó. Phải rồi, đúng là người ấy! Những bước chân rất nhanh, rất khoẻ dội vào nền đường mỗi lúc một rõ dần. Tiếng bước chân mà gã đã nghe rất nhiều lần, không thể lẫn vào đâu cho được. Như một phản xạ có điều kiện, gã liền bỏ cả hai chân xuống đất, ngồi thẳng người lên như trong tư thế chuẩn bị đón chờ một điều gì đó hệ trọng.

Cánh cửa ra vào lúc này bổng dưng tối hẳn đi như bị một đám mây mờ che khuất. Một bóng người cao lớn xuất hiện, như ảo ảnh, như từ dưới lòng đất chui lên. Một lão già khoẻ mạnh, râu ria lồm xồm như chổi sể cùn bước vào trong quán. Lão mặc trên người một bộ quần áo bảo hộ lao động rách rưới, chân đi đôi dép tổ ong to bản như hai mũi xuồng. Lão tiến đến bên quày, thân hình bất động, miệng mím chặt như người câm. Người chủ quán như đã biết ý, nhanh tay lật ngửa cái cốc vại trên quày, rồi nâng can rượu trắng lên và cẩn thận rót đầy. Động tác rất vừa, rất khéo, khiến cho cốc rượu đầy mà lại không để rỏ ra ngoài một giọt nào cả. Lão già đưa bàn tay đen đúa và thô kệch nâng cái cốc lên, ngửa cổ tu một hơi cạn. Chủ quán rót đầy một cốc nữa, lão già lại uống cạn. Khuôn mặt lão ta chẳng có chút biểu cảm nào, chỉ tái nhợt chứ không hề ửng đỏ giống như một người vừa mới uống rượu xong. Tiếp theo, lão móc túi, lấy ra một tờ tiền nhàu nhĩ để thanh toán, rồi lững thững đi ra. Tất cả những việc ấy chỉ diễn ra trong vòng vài phút đồng hồ. Cả chủ quán và người khách lạ, chẳng ai nói với ai một lời nào. Dường như đã có một thoả thuận ngầm nào đó giữa họ, như một sự hiển nhiên phải vậy.

Nhìn cảnh ấy, tất cả đám bợm nhậu đều há hốc mồm ra vì kinh ngạc và thán phục. Chúng vừa được xem một vở kịch câm rất hay, rất mực chắt lọc và trọn vẹn. Chẳng ai bảo ai, chúng đưa mắt hết nhìn cái cốc vại trên bàn, rồi lại nhìn xuống những cái chén hạt mít mà chúng đang dùng để uống rượu. Thật là đối lập, thật là nực cười. Cứ thế mà suy, cái kiểu uống rượu của chúng so với lão già kia thật chẳng khác nào là một trò trẻ trâu, con nít cả.

- Này ông! Vị đại hán kia là ai vậy? – Gã đại ca nhìn chủ quán và hỏi với một vẻ mặt kinh hoàng.

- Đó là lão Lê, một khách hàng quen của tôi! – Chủ quán thủng thẳng đáp. Rồi như để giải thích, hắn nói thêm – Lão đã ngoài sáu mươi rồi đấy. Nhưng sức vóc và tửu lượng hẵng còn khoẻ lắm, thiên hạ chẳng mấy ai bì kịp đâu.

Dĩ nhiên là vậy rồi, vì cái cảnh vừa rồi đã nói lên tất cả. Một vài đứa trong bọn nhớ lại cái hình ảnh lão Lê nâng cốc rượu lên tu ừng ực mà không khỏi rùng mình kinh hãi. Cả đời chúng chưa từng thấy ai uống rượu mà khoẻ khoắn và thản nhiên như vậy cả.

Như bị thôi thúc bởi những bí mật ghê gớm hẵng còn dấu kĩ trong lòng, gã chủ quán ngồi xoay hẳn về phía bọn khách nhậu và bắt đầu cất tiếng kể.

Hồi trẻ, lão Lê vốn lực lưỡng và khoẻ mạnh như một con trâu mộng đến kỳ. Một mình lão cày mấy mẫu ruộng, rồi dựng nhà, khênh vác, việc gì đến tay lão cũng trở nên nhẹ nhàng, cứ gọi là chạy băng băng.

Lần ấy, nhân dịp lão Lê hai mươi tuổi, đám bạn bè bèn cùng nhau tổ chức lễ sinh nhật cho lão. Một bữa cỗ linh đình được bày ra, ngoài lão Lê, trong mâm lúc này còn có thêm khoảng mươi người tề tựu nữa.

Mở đầu, lão Lê rót đầy chén rượu rồi nâng lên ngang chân mày, nói:

- Nào! Để đáp trả thịnh tình. Tôi xin kính mỗi người một chén!

Rồi cứ thế, lão chúc hết vòng tròn một lượt. Sau đó, ai uống bao nhiêu lão cũng uống bấy nhiêu. Thành ra, một mình lão đã chấp những người kia những mười chén rượu vậy. Tiệc tàn, người thì không thể uống tiếp được nữa, kẻ thì say bò ra. Riêng lão Lê thì càng uống càng hừng hực, càng dũng mãnh như chúa tể sơn lâm.

Gã chủ quán ngừng lại giây lát như để lấy hơi. Nhìn những khuôn mặt đang há hốc mồm ra vì tò mò, gã đưa tay vuốt ria, rồi kể tiếp.

Hội làng năm ấy được mở rất to và náo nhiệt. Để đề cao tinh thần thượng võ, người ta đã tổ chức một cuộc thi uống rượu mạnh. Thử thách là mười hai chén rượu mắt mèo nổi tiếng, ai uống hết mà không say thì coi như thắng cuộc. Một chiếc xe đạp Phượng Hoàng mới cứng được treo lên để làm giải thưởng. Hồi ấy xe đạp là cả một gia tài, là niềm mơ ước của tất cả mọi người. Người ta chủ yếu đi bộ, cả làng cả xã, mấy ai có xe đạp để mà đi kia chứ. Tham của, đã có rất nhiều người đến thử. Thế nhưng người khoẻ nhất cũng chỉ uống đến chén thứ sáu thì đã say mèm. Ba ngày trôi qua, chiếc xe đạp vẫn treo ở đấy như thách đố, như trêu ngươi, thế nhưng cũng chẳng có ai giật được giải cả.

Hôm ấy cũng là tình cờ, lão Lê cùng đám bạn đi xem hội. Thấy thể lệ cuộc thi hấp dẫn, một người bạn liền hối lão Lê ghi danh.

Thế là một cuộc thi tài, thử sức đã được diễn ra.

Với một vẻ mặt đầy tự tin, lão Lê nắm chặt hai tay, xăm xăm bước đến trước mặt ban giám khảo. Mười hai chiếc chén tống đựng đầy rượu mắt mèo được sắp thành một hàng dài trên chiếc bàn bọc nỉ đỏ. Tiếng trống thùng thùng nổi lên thúc dục, đám người cổ vũ cũng bắt đầu vỗ tay la hét.

Người chủ trò mặc áo dài ngũ thân, dạng chân, đếm:

- Một…hai…ba…

Sau mỗi tiếng đếm là một chén rượu được lão Lê nâng lên và uống cạn.

- Bốn…năm…sáu…

Người ta tò mò, lo lắng, người ta mở to mắt nhìn lão Lê. Họ chờ đợi cái phút giây lão lừ đừ con mắt, lảo đảo tay chân rồi nằm vật xuống bãi cỏ vì say, vì choáng. Nhưng không, trái với người ta tưởng tượng, lão ấy càng uống càng tỉnh như sáo, mặt mũi vẫn tươi tỉnh như thường.

Đến chén thứ mười hai thì lão dừng lại, vì đã thắng cuộc, chứ chẳng phải vì lão không uống được nữa. Người ta vỡ oà vì sung sướng, người ta tán thưởng và lắc đầu lè lưỡi vì thán phục. Ai cũng cho rằng, giải thưởng năm nay đã thực sự được trao cho một người xứng đáng.

Lão Lê chắp tay cảm tạ mọi người, rồi điềm nhiên bước lên bục nhận giải. Sau khi đã bóp thử cả phanh trước lẫn phanh sau, lão leo lên chiếc xe đạp phượng hoàng mới cứng rồi thủng thẳng đạp về. 

Thật đáng bái phục, thật đáng kính nể. Lão chính là hậu duệ, là hiện thân của tửu thần Lưu Linh vậy. Cũng từ đấy, lão Lê chính thức được thiên hạ vinh danh là “Tửu Thần”.

- Hay dạ dày của lão được làm bằng i nốc không rỉ chăng? – Một đứa khách nhậu không kìm được, thốt lên.  

- Chẳng biết có đúng vậy không. Nhưng lão uống rượu chẳng say bao giờ cả. Cứ như là nước đổ vào đất xốp ấy, đổ đến đâu ngấm hết đến đấy – Chủ quán mỉm cười, đáp.

Lão Lê cũng có vợ con, nhưng vì khánh kiệt cho nên bây giờ lão chỉ ở một mình. Lão sống bằng cách bán sức lao động. Bốc vác, làm vườn, thợ hồ, ai thuê gì lão cũng làm tất, miễn là có tiền để uống rượu. Một buổi lão uống hai cữ, mỗi cữ là hai cốc vại đầy. Điều kỳ lạ là lão uống mà chẳng ăn gì cả. Giống như chiếc xe máy đổ xăng vào là chạy, rượu vào là sức khoẻ của lão bổng từ đâu ngùn ngụt kéo tới. Vì thế mà lão làm rất khoẻ, làm trúc mồ trúc mả, làm quên trời quên đất mà chẳng hề biết mệt là gì. Lão làm gấp đôi gấp ba người thường, nhưng tiền kiếm được cũng chỉ đổ vào rượu hết.

Không chỉ uống rượu khoẻ, lão Lê còn nổi tiếng với tinh thần nghĩa hiệp, cứu khổ phò nguy.

Một lần, trong làng có một con trâu điên lồng lên phá phách và húc bị thương nhiều người. Con trâu mộng lực lưỡng, cái cổ to như cổ cối xay, hai cái sừng vòng cung nhọn hoắt húc đổ tất cả mọi thứ. Nó phi nhanh như một cơn lốc, những người không kịp tránh bị nó húc nằm bị thương la liệt. Máu chảy khắp nơi, cảnh tượng thật là tang thương. 

Dù vô cùng sợ hãi, nhưng người ta không biết làm cách nào để mà khống chế được con trâu đang trong cơn nổi điên cho được. Thế rồi trong cơn nguy cấp, một người chợt nghĩ ra, bèn hét lên:

- Tìm lão Lê. Mau lên!...

Mọi người sực nhớ ra, bèn chạy đi tìm lão Lê. 

Lúc này lão Lê vừa mới uống rượu xong, trong người đang nóng phừng phừng. Nghe mọi người báo tin, lão liền cởi phăng chiếc áo đang mặc, phăm phăm chạy ra đón đầu con trâu.

Hai mắt con trâu đỏ ngầu, thấy có đối thủ chắn đường, nó điên tiết lao thẳng vào như một cơn lốc. Bụi bay mù mịt, mọi người sợ hãi kêu ré lên bưng mặt.

Nhưng lão Lê vẫn đứng im như pho tượng, ngay khi con trâu vừa lao vào, lão liền nhanh tay chụp lấy hai cái sừng nhọn hoắt của nó, ghì chặt xuống đất. Con trâu điên khựng lại như bị va vào một bức tường sắt, nó cong người lại, hai chân sau cào vào mặt đường khiến cho bụi đỏ tung mù lên.

Nhưng khi đám bụi vừa tan, người ta che mắt nhìn kĩ thì thấy con trâu đã bị vật nằm xuống đất, hai sừng vẫn bị lão Lê nắm chặt. Người ta hò reo như vỡ trận, rồi cùng ùa cả vào mà dùng dây thừng trói con trâu lại. Còn lão Lê thì đương nhiên rồi, lão được người ta công kênh, được người ta tung hô như là một anh hùng cứu nhân độ thế.

Ngày trước, trong vùng có một người đô vật vạm vỡ tên là Vương Cơ. Phải, chỉ có Vương Cơ mới đủ sức ngồi tiếp rượu với lão Lê. Hai người họ thường xuyên uống rượu với nhau, coi nhau như tri kỉ.

Thế rồi trong một lần say rượu, Vương Cơ chẳng may sẩy chân ngã xuống sông chết đuối. Kể từ đấy, lão Lê chỉ uống rượu một mình. Chẳng hiểu là do lão không thèm uống với người ta, hay vì không ai có thể uống lại với lão nữa.

Ở góc phòng, chiếc quạt cây vẫn không ngừng quay tít và đảo đi đảo lại liên hồi. Người ta quên ăn, quên uống, quên luôn cả cái nóng bức của mùa hè để mà lắng nghe câu chuyện về tửu thần. Gã chủ quán đã ngừng kể, câu chuyện kết thúc, và ngoài kia, phố cũng đã lên đèn.