Nhà thờ xứ Bảo Long
được xây dựng và toạ lạc trên một ngọn đồi bằng đất hình mai rùa thoai thoải. Ở
lưng chừng đồi, giáo đường cao lớn uy nguy, đỉnh chóp lại vươn thẳng lên trời
xanh, nom tựa như một cái cột trụ chống trời. Từ đây nhìn ra bốn phía, thấy cơ
man nào là những núi non trùng điệp, bủa vây, như luỹ như thành. Khoảng giữa là
một vùng đồng bằng màu mỡ, với những thửa ruộng vuông vức xen kẽ, chỗ xanh chỗ
vàng, sống động như một bức gấm thêu. Phía dưới chân đồi, xóm đạo sống quy tụ,
màu mái ngói đỏ tươi, xen lẫn với những toà nhà cao tầng nhấp nhô. Nhà thờ án
ngữ trên cao, giáo dân ở dưới thấp, nương tựa và chở che. Cái thế phòng thủ bền
vững ấy, dễ khiến cho người ta hình dung đến cảnh tượng những pháo đài sừng
sững của các lãnh chúa âu châu thời kỳ trung cổ.
Cha quản xứ Vinh Sơn
là một người trẻ, năm nay ngài còn chưa đến bốn mươi tuổi. Nếu là tiếp xúc lần
đầu, có thể người ta sẽ dễ nhầm tưởng ngài với một tài tử điện ảnh nào đó của
Hồng Kông trong những thập niên 1990 hơn là một linh mục vậy. Ngài lịch lãm,
nói năng nhỏ nhẹ và rất dễ hoà đồng. Trung tuần tháng ba năm 2013, vâng lệnh bề
trên, ngài đã về trị nhậm nơi đây. Từ bấy đến nay, giáo xứ Bảo Long đã thay đổi
lớn lao như có một phép màu kỳ diệu. Cha cho sửa sang nhà thờ, xây mới nhà xứ,
giúp dân làm đường cho tiện việc đi lại. Khắp xứ Bảo Long ca ngợi ngài, và cũng
nhờ những công đức lớn lao ấy, danh thơm của ngài còn được nhắc nhủ và bay xa
trong khắp cả một vùng giáo phận rộng lớn quanh đây.
o0o
Nắng sớm bừng lên, dát
vàng và lan toả trên khắp xóm đạo. Một ngày như mọi ngày, trong trẻo và bình
yên. Từ trên cao, bóng tháp chuông nhà thờ đổ dài và hằn lên lối đi một vệt màu
loang lổ giữa cái nền gạch xi măng màu trắng xám. Bên trong hành lang nhà dòng,
bóng áo trắng của các nữ tu thoắt ẩn thoắt hiện, nhẹ nhàng như một ảo ảnh
thoáng qua. Có tiếng đàn hát từ một căn phòng ở tầng hai vọng xuống, đó là ban
nhạc nhà thờ đang tập trung tập luyện để chuẩn bị cho buổi đại lễ phục sinh sắp
tới. Cây cối trong sân nhà thờ, sau một đêm dài hút đẫm hơi sương, giờ đây cũng
đã bắt đầu xoã lá, vươn cành và bung ra những sắc hoa trong ngày mới.
Dọc theo bức tường xây
cao vút, có một người đàn ông đang chậm rãi đi về phía sân nhà thờ. Người ấy
cao lớn, tuổi trạc tứ tuần, vừa bước đi vừa mải mê ngắm nhìn như vãn cảnh. Nom
phong thái tự nhiên như vậy, có vẻ như khách không phải là người mới đến đây
lần đầu. Đúng thế, vị khách đó chính là Hoàng, vốn là một nhà văn trẻ và cũng
là chỗ quen biết với cha Vinh Sơn. Đến cuối bức tường, khách dừng lại một lúc
như thể quan sát hình thế, rồi đi vòng qua bức tượng thánh anton – Vị thánh hay
làm phép lạ - để bước lên sảnh của ngôi nhà mát. Thường ngày, cha Vinh Sơn vẫn
hay ngồi tiếp khách và hóng mát ở đây. Trên sảnh, người ta kê một bộ bàn ghế
làm bằng gỗ lũa được một người sùng đạo cung hiến. Cạnh đó, còn có mấy bộ bàn
ghế mây kê xen kẽ và một quày lễ tân phục vụ. Ngôi nhà được dựng trên những cây
cột tròn, bên trên lợp mái, bốn phía bỏ trống để có thể đón gió trời. Nhìn từ
xa, nhà Mát trông giống như một mái đình Việt cổ kính vậy.
Người phục vụ ngồi
phía sau quày, vừa nhìn thấy Hoàng thì đứng lên:
- Chú đến chơi!
- Chào anh! Cha có nhà
không?
- Cha đang nghỉ trong
phòng. Để con vào gọi.
- Phiền anh!
Chừng vài phút sau, từ
phía hành lang nhà xứ, cha Vinh Sơn nhanh nhẹn bước ra. Khác với thường lệ, bữa
nay ngài bận một chiếc áo lụa cổ tròn màu mỡ gà vừa vặn, nom khá trẻ trung và
lịch lãm.
- Mừng anh Hoàng đến
thăm!
- Chào cha
- Mời anh ngồi!
- Cảm ơn cha!
Trong lúc ngồi xuống
ghế, cha vui mừng nói:
- Thông báo với anh.
Cha vừa mới từ bên Pháp và Thuỵ Sĩ về hôm qua.
- Vậy ư cha? May mà
tôi đến chơi đúng lúc. Nhỡ cha chưa về thì…
- Không sao! Cha chưa
về thì mọi người ở đây vẫn đón tiếp anh chu đáo chứ sao?
Cha Vinh Sơn cười,
Hoàng cũng vui vẻ cười theo.
- Bây giờ thì anh dùng
gì nào? – Linh mục hỏi, giọng thân tình.
- Cha cứ cho cà phê
như thường lệ là được!
Người phục vụ mang đến
hai ly cà phê và còn cẩn thận đặt thêm một lọ đường trắng xuống bên cạnh.
- Chắc là cha đi có
việc trọng? – Hoàng khuấy thìa trong ly cà phê, hỏi.
- Bên đó họ tài trợ
cho mình một khoản tiền để xây nhà thờ và công trình dân sinh cho mấy giáo họ
trong vùng.
- Cha đúng là một vị
chủ chăn tận tuỵ, hết lòng vì đàn chiên thân yêu!
- Anh quá khen!
Linh mục nhấp một ngụm
cà phê, rồi ngước lên, nói với người phục vụ:
- Anh vào phòng, lấy
hộp bánh và dây cà vạt ra đây để cha tặng khách.
Lát sau, người phục vụ
trở ra:
- Thưa cha! Đây ạ!
- Quà cha mua từ Pháp.
Xin tặng anh! – Cha nói và đón gói quà từ tay người phục vụ trao cho Hoàng.
- Cảm ơn cha! Cha chu
đáo quá! – Hoàng nói, mắt hấp háy cảm động.
Hoàng là người ngoại
đạo, nhưng giữa họ, một nhà văn và một linh mục lại chuyện trò với nhau theo
một cách tâm đầu ý hợp mà chẳng hề có vẻ gì là ngăn cách cả. Trong các cuộc
luận bàn của họ, chủ đề ưa thích thường là lịch sử, thần học và các vấn đề xã
hội. Cha Vinh Sơn ủng hộ tự do tôn giáo, nhưng lại rất căm ghét chủ nghĩa vô
thần. Cha nói rằng, bọn vô thần là một lũ man rợ, tăm tối và thiếu giác ngộ.
Rằng, chủ nghĩa vô thần chính là mảnh đất màu mỡ để cho những tư tưởng bạo lực,
tàn ác nảy mầm và sinh sôi nẩy nở. Hai chữ “Vô thần” khiến cha dị ứng đến nỗi,
trong lúc trò chuyện, nếu có ai đó mà lỡ nhắc đến từ này là cha lại giật nảy
mình trên ghế, mặt đỏ lên giận dữ, cặp mắt thất thần như đang nhìn thấy hung
thần quỷ dữ hiện hình trước mắt vậy. Với Hoàng, cha Vinh Sơn luôn quý mến và
đối xử với anh bằng một tấm lòng biệt nhỡn liên tài. Bởi vậy mà mỗi lần gặp
mặt, cả hai người họ đều giữ thái độ “Tương kính như tân” mà chẳng hề có chút
nào sơ suất.
Trong lúc nhâm nhi cà
phê, Hoàng chăm chú quan sát những cây đèn lồng màu đỏ treo dọc hai bên cây cầu
Kiều nối liền trường dòng với nhà xứ. Lần nào đến chơi, anh cũng đều thích thú
ngắm nhìn cảnh trí nơi đây. Dường như ở đây cái gì cũng đẹp, từ việc sắp xếp
cho đến cách bài trí. Vốn là người có khiếu thẩm mĩ tinh tế, cha Vinh Sơn luôn
muốn làm cho mọi thứ trở nên thật đẹp đẽ và hoàn hảo nhất có thể.
-
Anh có đoán được cây Nhãn này đã bao nhiêu tuổi rồi không? – Giọng nói của linh
mục kéo Hoàng trở về với thực tại. Theo hướng tay cha, anh nhìn về phía cây
nhãn cổ thụ trước sân nhà thờ.
Hoàng chống cằm, nheo
mắt như thể ước lượng:
- Có lẽ…cũng đã mấy
chục năm rồi. Thưa cha!
Linh mục trầm
ngâm:
- Cây này đã đứng ở
đây hơn một thế kỷ rồi đấy. Gần bằng với tuổi của giáo xứ này. Nó đã chứng kiến
biết bao thăng trầm của nhà thờ - Cha im lặng vài giây, rồi với một giọng dí
dỏm, cha nói - Nếu là người, có lẽ nó đã thuộc lòng hết cuốn kinh cựu ước từ lâu
rồi cũng nên!
- Hơn một
thế kỷ ư? Thưa cha!?
- Đúng thế
đấy!...Nhưng bây giờ nó bị bệnh, cha đang cho người chữa. Từ năm ngoái, cây
xuất hiện nhiều đốm mốc, cành lá ủ rủ. Thời gian này đã bắt đầu xanh tốt trở
lại rồi… Là bệnh gì ấy nhỉ?...
- Bệnh khô cành cha ạ!
– Anh phục vụ đứng bên vội nhắc.
- Đúng rồi! Bệnh khô
cành – Cha cười, quay nhìn Hoàng – Anh thấy đấy, cây cối cũng bị bệnh như
người. Cần phải chữa trị và chăm sóc thì mới khoẻ mạnh được!...
- Vâng, thưa cha! –
Hoàng đáp, bao giờ anh cũng thán phục cái lối nói chuyện đầy thông minh và
triết lý ấy của cha.
Từ phía cổng nhà
thờ, có mấy người tay xách nách mang đang dắt díu nhau đi vào. Vì đi từ dưới
dốc lên, có cảm tưởng như bóng dáng của họ cứ lớn lên, rõ dần trong tầm mắt.
Đến trước sảnh nhà mát thì họ dừng lại, đồng thanh cất tiếng chào. Một anh quần
xắn móng lợn, trên tay xách cái xô nhôm đựng đầy những cá tươi bước lên phía
trước. Nhìn kỹ, thấy bên trong có gần cả chục con cá chép lẫn cá mè to cỡ bàn
tay đang quẫy đuôi đành đạch.
Anh ta khoanh tay, nét
mặt tươi tỉnh:
- Thưa cha! Bữa nay
tát ao nhà chung. Công việc hoàn thành, chúng con mang cá đến để biếu nhà bếp
ạ.
- Được nhiều cá không?
Mọi người đều được chia cả chứ?
- Dạ nhiều! Ai cũng có
phần cả.
Cha nhìn Hoàng,
vui vẻ:
- Cá này bắt
được từ ao nhà thờ đó!
Rồi cha giải thích
rằng, trong khuôn viên nhà thờ có một cái ao lớn, gọi là ao nhà chung. Mỗi lần
tát ao, nhà nào cũng được chia phần cả. Bây giờ họ mang phần cá đến cho cha.
Anh thanh niên nói
xong thì lui xuống, một cụ bà đội nón lá bước lên.
- Còn bà thì mang gì
đến cho tôi nào? – Cha tươi cười, hỏi.
- Thưa cha. Bí vườn
nhà con đã lớn. Con bảo người nhà cắt mấy quả ngon để mang biếu cha ạ! – Cụ bà
lởi xởi.
Nói rồi cụ nhanh tay
sắp bí ra sảnh. Những quả bí xanh căng tròn, to và trông nần nẫn như những chú
lợn con.
- Cảm ơn bà!... Còn
anh nữa! – Cha nói và chỉ vào người đàn ông trung niên đang đứng chờ đến lượt
mình.
- Dạ! Chúng con mang
biếu cha ít xoài và chuối nhà. Trái cây vừa chín tới đó ạ! – Anh ta kính cẩn
nói.
- Chúa sẽ trả công anh
bội hậu.
- Dạ!
Người đàn ông khệ nệ
bê sọt trái cây để lên sảnh.
Cha khoe với khách:
- Anh thấy đó. Toàn
cây nhà lá vườn cả đấy!
- Xứ ta đây thật là
trù phú và thuần hậu! – Hoàng thành thực đáp.
Linh mục gọi mấy người
nhà bếp mang cất những thứ vừa mới được biếu vào, rồi nói:
- Được rồi. Giờ thì
mọi người đã có thể về. Nông trang cũng là việc trọng. Cha đang có khách nhé!
Mấy người kia lại kính
cẩn chào cha rồi cùng bảo nhau lui ra.
Giáo dân đã bắt đầu mở
cửa nhà thờ để vào cầu nguyện. Các cô gái mới lớn trong tà áo dài thướt tha,
thong thả khoác tay mẹ bước vào bên trong giáo đường.
- Mấy giờ mà mọi người
đã đi nhà thờ nhỉ? – Hoàng nói và bất giác nhìn đồng hồ.
- Đó là những con
chiên sùng đạo. Họ đến nhà thờ đọc kinh một lúc rồi mới về làm công việc buổi
sáng – Linh mục giải thích.
Từ phía nhà thờ, tiếng
đọc kinh bắt đầu vang lên, râm ran như hát. Những âm thanh đều đều, lan toả
quanh những bức tường, những khóm cây, kẽ lá trong khuôn viên nhà thờ.
-
Giờ thì cứ để họ bình an trong chúa. Chúng ta đi lên đồi phục sinh thôi – Linh
mục đứng lên, nói.
o0o
Đồi
phục sinh nằm ở một địa thế cao nhất, nơi trước đây vốn là đỉnh của ngọn đồi
lớn. Tại đây, người ta xây dựng các công trình để mô phỏng hành trình khổ nạn
của chúa Giê su trên ngọn đồi Golgotha. Ngày thường, cha Vinh Sơn vẫn thích đi dạo ở đây, khi
thì cùng khách, lúc một mình. Theo như lời cha nói, không gian nơi này khiến
cha thư thái, cảm giác như tâm hồn đang được gột rửa và thanh tẩy một cách nhẹ
nhàng.
Chủ và khách cùng sánh bước, cha Vinh Sơn đi trước, Hoàng theo ngay phía sau. Trên
đường đi, linh mục dừng chân trước một tiệm thuốc tây.
- Công việc của chị Hường vẫn tốt chứ? –
Cha hỏi thăm một người phụ nữ mặc áo blouse đang đứng bẽn lẽn trước quày.
- Thưa cha! Vâng ạ. Như lời cha dạy, chúng
con đang khởi động chương trình phòng bệnh dịch mùa hè cho giáo xứ ạ.
Hường là một y tá trẻ, cô tốt nghiệp
trường y và mới về phục vụ giáo xứ được một năm nay.
- Tốt lắm! Cố gắng lên. Cần gì thì cứ nói
với cha!
- Dạ!
Cảm ơn cha!
- Không có gì!
- Mời cha và anh vào nhà chơi đã ạ! – Hường
ẩy nhẹ cánh cửa, nói.
- Thôi, bây giờ chúng tôi còn phải đi đây!
- Chào cô! – Hoàng cũng gật đầu, nói.
- Anh và cha đi!
Hai người lại tiếp tục hành trình.
- Ở đây, trường dòng có tổ chức dạy bổ túc
cho học sinh trong dịp hè. Như vậy sẽ giúp các cháu không bị hổng và thiếu hụt
kiến thức. Việc phòng bệnh, chữa bệnh cũng vậy, đều có phòng khám riêng – Linh
mục vừa đi vừa nói.
- Vâng! Thưa cha!
Đã đến chân đồi phục
sinh. Họ bắt đầu leo lên những bậc đá quanh co, khúc khuỷ. Hai bên lối đi, cây
cối rậm rì và được trồng xen lẫn rất nhiều kỳ hoa dị thảo.
Đến lưng chừng đồi,
cha Vinh Sơn chỉ vào vào mấy bức tượng thấp thoáng sau những lùm cây, nói:
- Hoạt cảnh này kể lại
hành trình khổ nạn của chúa.
Leo thêm mấy bậc đá
nữa thì nhìn thấy một hòn non bộ lớn. Cạnh đó, tượng Chúa Ki-Tô sừng sững, được
làm bằng đá nguyên khối và đặt ở vị trí cao nhất. Tượng cao chừng ba mét, được
điêu khắc công phu, hai cánh tay dang rộng ra hai bên.
Bên đường, có một ngôi
mộ đôi nằm im lìm, phía sau là những cây bách cao lớn như những hàng binh đang
đứng canh. Ngôi mộ lớn hơn trên bia có dòng chữ: “Alphongsô Phạm Đức Tài: 1823
- 1895”. Ngôi
mộ nhỏ đề: “Antôn Nguyễn Hữu Nam: 1871 - 1951”.
Cha Vinh Sơn dừng lại
trước mộ, đứng lặng vài giây như để cầu nguyện, rồi làm dấu thánh. Lần nào đi
qua đây cha cũng làm như vậy. Sự lặp lại đó khiến Hoàng cảm thấy thắc mắc,
nhưng vì ý tứ nên anh vẫn chưa tiện hỏi. Anh dự rằng, đợi có dịp nào đó thuận tiện,
sẽ lại hỏi cha sau.
Phía trước mặt hiện ra
một nhà nguyện nhỏ. Có mấy đôi trai gái đang dùng điện thoại di động chụp ảnh
cho nhau trước vương cung thánh đường. Nhác thấy linh mục đi tới, họ liền dừng
cuộc vui lại, vòng tay chào.
Cha Vinh Sơn tươi
cười, vẫy tay đáp lại. Đi thêm được mấy bước, cha nói:
- Ở đây phong cảnh
đẹp. Các trai thanh gái lịch thường đến để vui chơi, chụp ảnh.
- Vâng, thưa cha! Đó
cũng là thói thường của những người trẻ. Họ luôn yêu thích khám phá những cái
đẹp và mới lạ - Hoàng đáp.
- Anh nói phải!
Xa xa có một cái điếm
nhỏ hình bát giác, nằm cạnh một cây cầu nhỏ cong cong. Nơi đây là đỉnh đồi, nếu
bước qua cây cầu này thì sẽ có một lối đi khác để dẫn xuống phía dưới.
Linh mục chỉ vào cái
điếm, nói:
- Ta vào đây ngồi nghỉ
đi!
Bên trong điếm có một
bộ bàn ghế bằng đá kê ngay chính giữa, mặt bàn hình tròn, nhẵn bóng. Họ bước
vào và ngồi xuống, cùng nghỉ ngơi cho gân cốt thư giãn. Ở đây gió lộng, khung
cảnh phía dưới thu cả vào trong tầm mắt.
Quanh điếm, có rất
nhiều cây nguyệt quế xanh tốt đang trổ hoa. Từ giữa những cánh hoa trắng tinh
khiết, phô ra nhuỵ hoa màu vàng đài các, rung rinh. Sương sớm hãy còn đọng trên
cây, từ sau những kẽ lá, hương hoa toả ra dìu dịu.
Hoàng phóng tầm mắt ra
xa. Thấy cỏ cây hoa lá đan xen, những cây cầu nhỏ bắc qua, những lầu, những
tượng thấp thoáng. Ở đây thanh khí lâng lâng, vấn vít lòng người như tiên cảnh.
Có cảm giác như đang thoát tục vậy.
Cảnh trí tuy xinh đẹp,
nhưng không vì thế mà khiến Hoàng quên đi những sự nắc nỏm vẫn còn vướng vít
trong lòng bấy lâu nay. Anh ngồi im một lúc, rồi ngần ngừ:
- Thưa cha! Từ lâu,
tôi đã có một thắc mắc này…ngày hôm nay mong được cha giải đáp dùm cho!...
- Anh cứ nói! – Linh
mục xoa xoa đầu gối, nói.
- Chuyện là… Tôi muốn
cha cho biết về nguồn gốc ngôi mộ đôi trên ngọn đồi phục sinh này… và vì sao mà
mỗi lần đi qua đây cha đều dừng lại để cầu nguyện?...
Linh mục nghe xong thì
nhíu mày, nét mặt lộ vẻ ưu tư. Lát sau, ông cúi đầu, giọng như chùng hẳn xuống:
- À, ừm! Đó là một sự
kiện không thể nào quên trong lịch sử giáo xứ…
- Một sự kiện buồn ư,
thưa cha?
- Đúng vậy! Mọi chuyện
cũng bắt đầu từ cái phong trào tàn khốc gọi là “Văn Thân” ấy – Anh biết chứ?
- Vâng! Đó là một phong trào chính trị của các nho sĩ ở
cuối thế kỷ 19.
- Ấy đấy! Anh có biết
khẩu hiệu của họ là gì không?...Là “Bình Tây, sát Tả” kia đấy – Cha đưa hai tay
ôm đầu và nói mấy từ ấy với một vẻ đau khổ tột cùng – Một khẩu hiệu đầy tính
hận thù và giết chóc. Cái bọn vô thần ấy là một lũ dã man, khát máu. Ở chúng,
chẳng hề có sự thương xót và thương yêu con người nào cả.
Những hồi ức quá khứ đã
khiến cho linh mục bị kích động mạnh. Để làm dịu đi cái không khí căng thẳng,
Hoàng ngồi thẳng người lên, nói:
- Cái phong trào ấy rõ
là cực đoan. Nhưng có thể cũng là sự va đập nhiều khi khó tránh khỏi giữa các
nền văn hoá và ý thức hệ. Với họ, đạo Khổng đã ăn sâu bám rễ trong tâm thức
hàng ngàn năm. Bởi vậy mà họ đã có những phản ứng tiêu cực để bảo vệ cái thế
giới quan của họ, những gì mà họ cho là đúng, là chính thống.
- Ôi! Anh không biết
những tội ác, những việc xấu xa mà họ đã gây ra cho giáo xứ Bảo Long này đâu! –
Linh mục vẫn ôm đầu, tỏ ra vô cùng đau khổ.
- Tôi thật có lỗi, vì
đã khiến cha phiền lòng! – Hoàng nói, vì chính anh là người đã khơi mào câu
chuyện.
- Không sao! – Linh
mục xua tay, nói.
- Nhưng cha vẫn chưa
giải đáp những thắc mắc của tôi!? – Hoàng khẽ khàng nhắc.
- Thôi được. Nếu anh
đã thực sự muốn nghe thì cha sẽ kể! – Linh mục thở hắt ra, nói.
Rồi với một chất giọng
đều đều và chậm rãi, ngài bắt đầu kể.
“Đó là một biến cố đau
thương đối với lịch sử giáo xứ Bảo Long này.
Năm
1883, với khí thế hận thù và
khát máu, những kẻ đi theo phong trào “Văn Thân” đã bất ngờ ồ ạt tấn công giáo
xứ Bảo Long. Những tên lính sát khí đằng đằng, với vũ khí trong tay đã sộc vào
từng nhà, lôi tất cả người già, người trẻ ra để tra tấn và giết hại. Sau khi đã
cướp phá tất cả những gì có thể, chúng lập tức phóng hoả đốt nhà. Cả giáo xứ
chìm trong biển lửa, tiếng la hét, tiếng trẻ con kêu khóc như ri. Tai hoạ từ
trên trời giáng xuống, chẳng ai biết, ai hay mà phòng. Trong thời khắc hiểm nguy
ấy, linh mục Nguyễn Hữu Tài chỉ còn kịp hô hào cho giáo dân rút lui để lánh
nạn.
- Mọi người hãy rút
hết cả lên đồi! Nhanh lên! – Ngài hét lên trong tiếng súng nổ rền và những
tiếng hò reo xung trận của quân địch.
- Cả cha cũng đi nữa!
Cha không được ở đây, nguy hiểm lắm! – Mấy giáo dân níu lấy áo cha, khóc.
- Cứ để mặc cha! Bà
con hãy chạy trước đi – Linh mục mím chặt môi, nói.
Quân địch đã vượt qua
nhà xứ, những bóng đen thấp thoáng mỗi lúc một gần. Họ xô đổ cánh cổng lớn rồi
hò nhau tiến lên, lớp sau dồn lớp trước, đông nghịt như kiến cỏ.
- Cha phải đi thôi,
may ra còn kịp! – Mấy người trong đội tự vệ giáo xứ hốt hoảng kêu lên. Rồi mặc cho linh
mục vẫn ngần ngừ, họ xốc lấy tay ngài, vừa đi vừa chạy, nhanh chóng hộ tống
ngài lên đồi.
Khi lên đến nơi,
linh mục nhìn thấy tất cả giáo dân đều đã tập trung quanh nhà thờ. Họ sắp bàn
ghế và chướng ngại vật ra sảnh để làm chiến luỹ, họ dùng tất cả những gì có thể
để làm vũ khí bảo vệ chốn linh thiêng. Lúc này, nhà thờ đã trở thành một pháo
đài kiên cố, và ngọn đồi um tùm chính là thành luỹ tự nhiên để bảo vệ con người
trước sức tấn công của kẻ địch.
Bên dưới, những kẻ tấn
công đã ùn ùn kéo đến bao vây ngọn đồi. Họ gào thét và đe doạ rằng, nếu giáo
dân không chịu đầu hàng thì khi chiếm được nhà thờ, họ sẽ giết hết, phá hết.
Quân địch quá đông,
lại hung hăng và được trang bị vũ khí đầy đủ. Giáo dân thì lại không có một tấc
sắt nào trong tay. Sự thể đã quá cấp bách. Trong khi đồn binh đóng gần nhất
cũng cách đến ba mươi cây số, lại không có cách nào thoát ra được để báo tin.
Vả lại, nước xa không thể cứu lửa gần. Lòng thương xót giáo dân khiến cho linh
mục cứ như ngồi trên đống lửa. Ông chắp tay ra sau lưng, cứ đi đi lại lại trong
phòng mà không thể nghĩ ra cách nào khả dĩ. Tình hình thực vô kế khả thi.
Một lúc, thấy trên đồi
không có động tĩnh gì, những kẻ bao vây lại la hét đòi gặp linh mục để nói
chuyện. Vậy là giáo dân lại hốt hoảng chạy đi tìm linh mục. Sau cùng, họ nhìn
thấy cha đang quỳ trước ban thờ chúa, lặng lẽ chắp tay cầu nguyện.
Một người hấp tấp chạy
vào, cấp báo:
- Cha ơi! Bên ngoài
quân địch đã mấy lần hò reo xông lên. Tình hình nguy cấp lắm rồi. Chúng đang
đòi gặp cha để nói chuyện…
Linh mục nhìn lên
tượng chúa, lầm rầm:
- Xin chúa hãy đoái
thương và chở che cho con cái ngài vượt qua cơn kiếp nạn này!...
Dứt lời, cha vụt đứng
lên, nói:
- Hãy để cha xuống đó
gặp bọn chúng!
- Không được đâu cha
ơi! Chúng sẽ giết cha mất! – Giáo dân lo lắng nói.
Nhưng ý linh mục đã
quyết. Ngài theo đám người đi ra trước sảnh nhà thờ và chống tay, nhìn xuống
chân đồi. Dưới kia, cảnh tượng giáo xứ thật tiêu điều, tang thương. Những bức
tường bị đạn bắn lỗ chỗ, khói đen từ những đám cháy vẫn không ngừng bốc lên
khét lẹt. Ngói rơi, dậu đổ, từ trong nhà ra ngoài bãi, chẳng có một chỗ nào là
còn yên lành, nguyên vẹn.
Trong không khí u ám
của sự tàn phá và giết chóc ấy, linh mục đã một mình đi xuống chân đồi, đầu
ngẩng cao hiên ngang. Phía sau ông là những lời cầu nguyện của giáo dân, trước
mặt là đám quân lính đằng đằng sát khí như hổ đói rình mồi.
Linh mục bước từng
bước một, mắt nhìn mà như không thấy gì, trong đầu ngài lúc này chỉ nghĩ đến
đức chúa linh thiêng. Trước khí vũ hiên ngang của ngài, những tên lính ở hàng
đầu tuy có vũ khí trong tay nhưng cũng cảm thấy chột dạ. Mắt mở to ngạc nhiên,
và chẳng ai bảo ai, họ bất ngờ lùi lại mấy bước.
Linh mục đứng thẳng
người, rồi với một vẻ mặt điềm tĩnh như không, ngài nói, giọng vang vang:
- Hỡi những người lính
đã tấn công giáo xứ hôm nay! Hãy lắng nghe tôi nói! Những giáo dân trên kia
chẳng làm gì nên tội cả. Họ cũng như cha mẹ, vợ con các anh ở nhà. Nếu các anh
muốn bắn muốn giết thì hãy nhắm tôi đây. Tôi là linh mục, có tội tình gì thì
tôi sẽ chịu thay cho họ. Nhưng các anh phải hứa là hãy tha cho giáo dân và
không được tàn phá nhà thờ!
Một gã cao lớn, đầu
đội khăn, từ phía sau hàng quân khệnh khạng bước lên. Hắn trợn mắt, mặt đối mặt
với cha, rồi hất hàm, hỏi:
- Ta muốn hỏi. Rốt cục
là các ngươi có chịu đầu hàng không thì bảo?
Linh mục cũng nhìn
thẳng vào mắt hắn và nói, giọng châm biếm:
- Lạ chửa! Chúng tôi
có đánh nhau với ai đâu mà phải đầu hàng?
Bị chọc giận, gã kia
tức đến đỏ mặt tía tai. Gã nhảy tưng tưng như lên đồng, rồi trong cơn quẫn trí,
gã vung thanh mã tấu sáng loáng, gầm lên:
- Thôi! Không cần phải
đôi co nữa. Hãy trói nó lại cho ta!
Y lệnh, hai tên lính
đứng gần đấy lập tức xông vào, chúng dùng sức đè sấp linh mục xuống đất và dùng
một sợi dây thừng buộc trâu để trói nghiến lại.
Linh mục bị bọn lính
giải đi và tống giam trong một căn nhà hoang trên đồi bạch đàn. Chỗ này gần một
con sông, xa dân cư và cách giáo xứ đến mấy cây số đường chim bay. Họ giam cha
ở đây, không cho ăn uống gì cả, mục đích là để cho cha chết đói, chết khát.
Ngọn đồi xanh um, cây cối rậm rì, từ dưới nhìn lên chỉ thấy những cành lá vươn
ra và đang không ngừng đung đưa trong gió.
o0o
Hằng ngày, bãi cỏ xanh
mướt nơi mé sông là nơi mà lũ trẻ trong làng thường lùa trâu bò ra đây để chăn
thả. Trong số này, có cậu bé Nam, vốn là con một người đàn bà goá ở trong làng.
Sáng nay như thường lệ, sau khi đã lùa trâu vào bãi thả, nó nằm ngửa trên cỏ,
ung dung nhìn trời, ngắm mây. Lúc nào nó cũng lủi thủi một mình như vậy, vì lũ
bạn chê nó là đứa không có bố, không cho chơi cùng. Cách đấy một đoạn, lũ trẻ
chăn trâu đang bứt cỏ để chơi trò chọi gà. Chúng vừa chơi vừa cãi nhau, om sòm,
chí choé như họp chợ. Đôi khi, cái không khí sôi động ấy cũng lôi cuốn nó,
khiến nó muốn gia nhập cuộc chơi. Nhưng nghĩ đến thái độ kinh khỉnh và miệt thị
của lũ bạn mỗi khi nó có mặt, nó lại nằm im và giập tắt ngay cái ý muốn giản dị
đó. Nó lấy cái mũ lá, che một bên tai để khỏi phải nghe những âm thanh cãi nhau
vọng lại, rồi nhắm mắt và để mặc cho đầu óc tự do theo đuổi những ý nghĩ vu vơ.
Có tiếng chim kêu lích
rích ở đâu đó rất gần. Nó mở bừng mắt, ngơ ngác nhìn quanh. Cách chỗ
nó nằm một đoạn, có một con chim chào mào đang đậu trên cây ngô đồng, vừa kêu
vừa lúc lắc cái mào như làm xiếc. Chú chim rất đẹp, từ bé đến giờ nó chưa hề
thấy bao giờ. Như mèo rình chuột, nó quờ tay lấy cái ná bên hông, rồi nhẹ nhàng
nhổm dậy. Nhưng khi nó vừa chuẩn bị bắn thì con chim liền vỗ cánh bay đi. Nó
bật dậy như lò xo, vùng đuổi theo, mắt vẫn không rời đôi cánh đen trắng của con
chim phía trước. Giống như trêu ngươi, con chim cứ bay được một đoạn thì lại
đậu, làm cho nó phải chạy theo đến muốn hụt hơi. Nhưng hễ nó giơ ná
lên thì con chim ranh mãnh lại bay vụt đi. Khi đến chân đồi thì con chim đột
nhiên biến mất. Thật kỳ lạ, rõ ràng là vừa thấy nó đậu ở đây kia mà? Nó mở to
mắt, tìm khắp những ngọn cây gần đó nhưng vẫn không thấy đâu cả. Con chim đẹp
quá, không thể nào để mất dấu được. Thế rồi, tự lúc nào, đôi chân nó cứ lần
theo lối mòn để đi lên trên đồi.
Con chim đã hoàn toàn
mất dạng, nhưng trước mắt nó lúc này lại hiện ra một cái chòi canh. Không, đúng
hơn là một ngôi nhà gạch bỏ hoang nằm chênh vênh trên sườn đồi. “Ai mà lại ở
đây thế nhỉ?” – Nó tự nhủ, rồi tò mò tiến lại gần ngôi nhà. Tuy chờn chợn,
nhưng rồi lòng ham khám phá đã chiến thắng, nó mạnh dạn bước lên những bậc thềm
phủ đầy lá khô. Cánh cửa gỗ khoá im lìm, nhưng có một ô cửa sổ con con vẫn mở.
Nó rón rén đến bên cửa sổ, vịn tay vào chấn song rồi hé mắt nhìn vào. Nhưng bên
trong tối om, chẳng có đèn đóm gì cả. Một đám mối mọt bất ngờ rơi xuống, vương
cả vào mắt, cay xè. Nó dụi mắt, cố nhòm qua khe cửa một lần nữa. Khi
mắt đã bắt đầu quen với bóng tối bên trong, nó nhìn thấy một người đang ngồi
dựa lưng vào tường. Dường như là một ông lão thì phải. Ông ấy mặc một bộ đồ màu
trắng, ngồi xếp bằng, hai tay đặt trên đùi như đang thiền định. Nó nhìn thấy
ông lão động đậy. Vậy là ông ấy vẫn còn sống. Ông lão là ai mà lại ở đây một
mình thế nhỉ. Mà cửa thì khoá ngoài, như vậy là ông ấy bị giam, chứ không phải
nhà ở đây.
Nó mở to mắt ngạc
nhiên, lo sợ vì phát hiện đó của mình. Cảm giác hồi hộp khiến trống ngực nó đập
thình thình như trống trận. Nếu là bị giam, hẳn là ông ấy cần phải được giúp
đỡ. Nó nghĩ vậy, rồi đánh bạo hỏi:
- Ông ơi! Ông là ai
thế? Tại sao ông lại ở đây?
- Ai đấy? – Một giọng
nói yếu ớt từ bên trong vọng ra.
- Cháu đây!
- Cháu là ai? – Vẫn là
giọng nói ấy, nhưng lần này có vẻ dè dặt và cảnh giác hơn.
- Cháu đi chăn trâu
dưới kia…
Một lúc im lặng. Lại
là tiếng ông lão, nhưng có lẽ lần này ông đã tin lời nó.
- Người ta giam ông ở
đây cháu ạ. Đã ba ngày rồi, không cho ông ăn uống gì cả. Họ muốn cho ông chết!...
- Vì sao họ lại bắt
giam ông? – Không cưỡng được tò mò, nó lại hỏi.
- Cháu còn nhỏ. Không
hiểu được chuyện này đâu.
Nó cắn chặt môi, bần
thần suy nghĩ, dù trí óc non nớt của nó chẳng thể hiểu được gì. Nó chỉ thấy
thương và tội nghiệp cho ông lão. Già cả thế này rồi mà còn bị người ta bắt
giam, lại còn bị bỏ đói, bỏ khát trong căn nhà hoang này.
- Ông có cần gì không?
Cháu sẽ giúp? – Sau cùng nó cũng bày tỏ được ý tốt của mình.
Ông lão thều thào:
- Có ai ở đó không?
Nếu họ biết được thì sẽ nguy hiểm cho cháu đó.
Nó lén lút nhìn quanh
như đang ăn trộm, rồi nói:
- Không có ai đâu ông
ạ. Chỉ mỗi mình cháu thôi. Lũ bạn đang chơi ở tận dưới bờ sông kia. Không ai
biết đâu.
- Vậy cháu có thể mang
cho ông một ít nước được không? Ông đang khát lắm!
Chẳng có nồi niêu hay
cốc chén gì cả, mà lúc này chạy về làng thì xa. Nó bèn nói:
- Nhưng ở đây chẳng có
cái gì để đựng ông ạ.
Ông lão chậm rãi cởi
cái áo ngoài ra, luồn tay đưa qua khe cửa, nói:
- Cháu mang cái áo này
xuống bờ sông giặt sạch. Sau đó thấm đẫm nước vào rồi mang lên đây cho ông.
Nó cầm lấy chiếc áo,
ngơ ngác mất vài giây. Nhưng rồi nó cũng hiểu, chiếc áo có thể mang được nước
lên đây. Trong tình cảnh khó khăn này, đó cũng là một cách hay. Ông lão hẳn
phải là một người rất thông minh, vì nhất thời, đầu óc nó chẳng thể nào nghĩ
được như thế. Đã mấy hôm liền không được ăn uống, có lẽ là ông ấy đã đói khát
lắm?
Đứa bé cầm theo cái áo
ông lão đưa cho, chạy ù một mạch xuống bờ sông. Nó chọn một khúc sông kín đáo,
không cho lũ bạn trông thấy, rồi bắt đầu giũ cho thật sạch. Thấy động, lũ cào
cào đập cánh bay loạn xạ. Người nó nóng ran, mồ hôi túa ra như tắm. Nó làm một
cách vội vàng, nước bắn lên khắp người, khắp mặt, mát lạnh. Giặt xong, nó nhúng
cái áo xuống thật sâu, thấm cho ướt nước, rồi lại bắt đầu chạy ngược lên đồi.
- Ông ơi!... Nước đây
rồi!...- Nó vịn tay vào song cửa, hổn hển nói.
- Cho ông xin! – Ông
lão đón lấy cái áo và ngước ánh mắt ươn ướt nhìn nó.
Vẫn với những cử chỉ
chậm rãi, ông lão giơ cái áo lên, rồi ngửa cổ, vắt cho nước chảy vào miệng. Nó
nghe thấy ông “Khà” lên một tiếng khoan khoái. “Có lẽ là ông ấy đã khát lắm” -
Nó nghĩ thế và cảm thấy vui vui.
Như chợt nhớ ra, nó
lại nghĩ: “Ông ấy vẫn còn đói”.
- Chiều nay cháu sẽ
mang cơm đến cho ông. Ông nhé! – Nó nói.
- Cảm ơn cháu. Cháu
tốt quá! Chúa sẽ phù hộ cho cháu! – Giọng ông lão run run. Có lẽ là ông đã rất
cảm động.
Hôm ấy, trong bữa cơm
chiều, đứa bé đã kể cho mẹ về chuyện ông lão bị giam trong ngôi nhà hoang trên
đồi. Bà mẹ lắng nghe, vừa ngạc nhiên vừa cảm thấy lạ lùng. Linh tính mách bảo
cho bà có một điều gì đó uẩn khúc và hệ trọng. Bởi vậy mà khi nghe xong, bà đã
nghiêm sắc mặt nhìn con:
- Con này. Hãy nhớ là
không được kể chuyện này cho ai biết. Nghe chưa!
- Vâng! - Đứa bé đáp.
Nhưng nó cũng cảm thấy kỳ lạ vì cả ông lão và mẹ nó đều dặn phải như thế.
Bà
mẹ ngồi thừ ra mất một lúc vì những bối rối trong lòng. Có một sinh mệnh đang
cần được cứu giúp, và cái sứ mệnh thiêng liêng ấy giờ đây đang được thượng đế
đặt vào trong tay bà. Lòng thương cảm đã khiến cho bà không phải mất nhiều thời
gian để đắn đo. Chỉ sau một cái nhíu mày, bà bắt đầu xới cơm và thức ăn cho vào
trong tô, rồi để riêng ra một góc trên cái mâm gỗ.
- Lát nữa ăn xong, con
mang chỗ cơm này lên cho ông lão nhé! – Bà dặn con bằng một giọng nghiêm nghị.
- Vâng ạ!
Cậu bé Nam rất vui, vì
thấy mẹ đã đồng cảm và làm theo ý mình. Thế là trời vừa nhập nhoạng tối, một
tay cầm mo cơm, tay kia cầm be nước, nó thung thăng đi lên đồi. Vừa đi nó vừa
nhìn trước, ngó sau, cẩn trọng và lẹ làng như một người lính giao liên dạn dày
kinh nghiệm.
Khi nhận cơm từ tay
đứa bé, ông lão đã rất cảm kích.
- Cháu tên gì? Con cái
ai, nhà ở đâu? – Ông hỏi và nhìn nó qua ô cửa nhỏ.
- Cháu tên Nam, con mẹ
Lan. Nhà cháu ở cuối xóm. Bố cháu mất từ lâu. Cháu lớn lên cũng chẳng biết mặt
bố nữa.
Câu trả lời ngắn gọn,
nhưng cũng đủ để giúp ông lão hình dung được phần nào hoàn cảnh của vị ân nhân
nhỏ tuổi. Ông không hỏi gì thêm nữa, chỉ im lặng cúi đầu. Nó thấy miệng ông mấp
máy, dường như ông đang chúc phúc cho nó thì phải.
Từ đó, ngày nào đi
chăn trâu, cậu bé Nam cũng lén mang cơm nước lên đồi cho ông lão. Nhờ vậy mà dù
bị giam cầm khắc nghiệt, người tù già vẫn sống khoẻ mạnh và bình an.
o0o
Tại
giáo xứ Bảo Long. Cuộc bao vây nhà thờ của quân Văn Thân đã bước sang ngày thứ
bảy. Suốt một tuần lễ liền, giáo dân vẫn kiên cường chống đỡ, nhất quyết không
chịu đầu hàng kẻ địch. Quân
lính Văn Thân đã nhiều lần hò nhau xông lên, nhưng mỗi lần như thế lại bị gạch
đá từ trên cao ném xuống dữ dội, kẻ biêu đầu, người mẻ trán, rốt cục đành phải
tức tối thoái lui.
Đêm ấy, nhân lúc tối
trời và quân địch lơ là canh phòng, một giáo dân đã thoát được xuống chân đồi
và đi xuyên đêm để đến đồn binh đóng gần đó xin cứu viện.
Sau
một đêm bàn định, sáng hôm sau, quân Văn Thân bắt đầu chất củi khô và những thứ
dễ bắt lửa quanh ngọn đồi. Họ muốn thiêu cháy nhà thờ và toàn bộ giáo dân ở trên
đó. Ngọn lửa bùng lên dữ dội, như một con rắn dài cuộn tròn, lan dần, mỗi lúc
một gần hơn đến khu vực nhà thờ. Cây cối bắt lửa cháy xèo xèo, khói đen cuộn
lên như những chiếc vòi rồng khổng lồ, mịt mù che khuất mọi thứ. Trong cơn
tuyệt vọng, giáo dân chỉ còn biết chắp tay cầu nguyện Đức Mẹ Maria cứu vớt.
Kỳ lạ
thay! Chừng mấy phút sau, đột nhiên mây đen ở đâu ùn ùn kéo tới, che kín cả
ngọn đồi. Vài tiếng sét nổi lên xé toạc không gian, rồi trời bắt đầu chuyển mưa
như trút nước. Ngọn lửa hung hãn vừa bò lan đến lưng chừng đồi, còn chưa kịp
bén vào nhà thờ thì đã bị trận mưa giông dập tắt ngóm.
Những
kẻ bao vây còn chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì vừa lúc đó đạo quân của thừa sai
Adolphe Klingler cũng kịp kéo đến để giải vây. Bị đánh bất ngờ, quân Văn Thân
tan tác, bỏ chạy tán loạn như một bầy ong vỡ tổ. Giáo xứ đã được giải phóng.
Người ta từ trên đồi ào xuống, ôm chầm lấy nhau, mừng mừng tủi tủi. Họ khóc vì
vui, vì đã thoát nạn và còn bảo vệ được nhà thờ nguyên vẹn mà không hề bị quân
địch tàn phá. Cuộc tấn công của quân Văn Thân đã khiến cho hơn ba mươi giáo dân
bị giết. Xác của họ nằm trước sân, vắt vẻo trên hàng rào và cả ngay ở trong
nhà. Có người còn chắp tay nguyện cầu đức chúa trước khi bị quân địch sát hại.
Cả giáo xứ bị tàn phá tan hoang, quang cảnh cứ như ngày tận thế.
Sau
khi đã lục tung cả giáo xứ mà vẫn không tìm thấy linh mục, thầy phó tế liền dẫn
theo mấy người nữa trong đội tự vệ đi tìm. Điều khiến họ lo lắng nhất
là không biết hiện giờ cha đang bị giam ở đâu, còn sống hay đã chết. Đoàn người
toả đi khắp các vùng xung quanh, đến đâu họ cũng hỏi thăm, tìm kiếm. Sau cùng,
họ được cậu bé Nam dẫn đến ngôi nhà hoang trên đồi. Khi tìm thấy cha vẫn còn
sống khoẻ mạnh ở đây, ai nấy đều bật khóc vì mừng rỡ và cho rằng cha đã được
chúa trời phù hộ và chở che.
Mấy
bữa sau, trong lúc người đàn bà goá đang quét dọn trong sân thì chợt thấy có
mấy người khách lạ tìm đến nhà. Họ ăn vận lịch sự, đi đầu là một ông lão tóc
bạc, dáng vóc và thần thái như tiên.
Họ
dừng lại trước sân, rồi một người trong đoàn tiến lên, hỏi:
-
Chào bà! Xin hỏi, đây có phải là nhà bà Lan không?
- Dạ
phải! – Chủ nhà đáp và ngỡ ngàng nhìn những người khách lạ. Bà chưa gặp họ bao
giờ, càng không hiểu lý do vì sao lại có chuyến viếng thăm đường đột này.
-
Chúng tôi từ giáo xứ Bảo Long đến đây…- Một người khác nói.
Những
nếp nhăn trên khuôn mặt khắc khổ của người đàn bà giãn ra. Với những người theo
đạo, bao giờ bà cũng dành cho họ một sự kính trọng đặc biệt. Bà dựng vội cây
chổi vào tường, rồi lịch sự nói:
-
Vâng! Mời các ông vào trong nhà!
Căn
nhà tranh đơn sơ, bên trong chỉ kê một chiếc giường cũ kĩ và một bộ chõng tre
để ngồi.
Ông
lão vịn tay ngồi xuống. Một người khác đặt gói quà lên bàn rồi kính cẩn chắp
tay đứng cạnh ông lão.
- Hôm
nay chúng tôi đến đây. Trước là thăm bà, sau đó là để tỏ lòng biết ơn đối với
bà!…- Ông lão từ tốn mở lời.
Chủ
nhà ngừng tay rót nước, đáp:
-
Chúng tôi mẹ goá con côi. Nào có giúp đỡ được gì ai mà ông lại nói lời cảm ơn?...
- Có
đấy. Ơn của bà lớn lắm! – Ông lão nói.
Rồi
ông bắt đầu đem chuyện mình bị giam ở trên đồi, sau đó lại được cháu Nam giúp
đỡ và bà cho ăn uống ra sao kể lại một lượt.
Lần
này thì bà goá đã hiểu, liền tỏ ra vui mừng:
- Vậy
ông đây là?...
Người
đứng cạnh ông lão nói:
-
Thưa bà! Đây là linh mục Tài. Cha quản xứ Bảo Long của chúng tôi.
- Vậy
ư? Thật là vinh hạnh cho tôi!…
-
Cháu Nam có ở nhà không bà? Xin cho phép tôi gặp cháu được không? – Ông lão nói
và đưa mắt có ý tìm kiếm.
- Dạ,
để tôi gọi cháu!
Từ
nãy, cậu bé Nam vẫn nấp ở trong buồng nhìn trộm ra. Ngay từ đầu, nó đã nhận ra ngay
ông lão. Vẫn là mái tóc bạc, vầng trán đẹp như tiên kia, chỉ có điều, bữa nay
ông ấy mặc một bộ đồ màu đen nom rất nghiêm trang. Cả những người đi cùng cũng
ăn mặc rất đẹp, toàn những thứ vải mềm và mịn, chứ không phải quần sồi áo nâu
như nó. Mãi suy nghĩ, khi nghe tiếng mẹ gọi, nó đã giật nảy mình và chạy ù ra
nhà ngoài.
-
Cháu chào ông ạ!...- Đứa bé tiến đến bên ông lão, cất tiếng rụt rè.
Ông
lão kéo nó ngồi cạnh, âu yếm xoa đầu nó, rồi lựa lời hỏi han. Một lúc sau, ông
ngồi thẳng người lên và nói với người đàn bà bằng một giọng xúc động:
-
Thưa bà! Tôi đã được cứu sống là nhờ tấm lòng thiện lương của cháu Nam đây.
Cháu thực sự là một đứa trẻ tốt và có giáo dục. Tôi nghĩ là chúa đã chọn cháu
để phục vụ giáo hội. Vì vậy mà tôi muốn được thưa với bà một chuyện, không biết
bà có ưng thuận cho không?
-
Vâng, ông cứ nói! – Bà goá đáp, dù bà vẫn chưa hiểu chuyện gì.
- Tôi
muốn xin cháu về nuôi và cho cháu đi học!
Bà mẹ
ngồi im, nước mắt lưng tròng. Lát sau, bà nói:
- Nếu
cháu mà được theo ông để ăn học nên người thì còn gì bằng. Người làm mẹ như tôi
đây còn mong gì hơn nữa. Nhưng chúng tôi chỉ có hai mẹ con sống nương tựa vào
nhau. Nếu phải xa cháu thì tôi sẽ nhớ nó lắm…
-
À!...Hay là thế này – Linh mục khoát tay, nói – Để công bằng, tôi sẽ hỏi ý kiến
cháu nhé.
Rồi
ông xoa lên cái đầu cháy nắng của đứa bé, nhẹ nhàng hỏi:
-
Cháu có đồng ý theo ông không nào? Ông sẽ cho cháu đi học làm linh mục!
Nó
ngước cái mũi hỉnh lên, ngây thơ hỏi:
-
Linh mục là gì hả ông?
Ông
trỏ vào mình, cười:
- À!
Ờ…Linh mục là như ông đây này!
Nó
thấy ông được mọi người đối xử kính trọng, nói gì cũng được thưa gửi đàng
hoàng, nó thích lắm.
Nó
nhìn mẹ có ý dò hỏi. Bà mẹ cũng nhìn con, khích lệ:
- Con
thích thế nào thì cứ nói với ông!
Được
lời, nó dụi đầu vào người ông, bẽn lẽn:
-
Vâng!
Năm ấy, khi theo linh
mục về, cậu bé Nam vừa tròn mười hai tuổi. Cậu được cha gửi đi học trường dòng,
rồi sau đó là đại chủng viện. Khi đã trở thành linh mục, ngài sống một cuộc đời
tận hiến, hết lòng phụng sự giáo hội. Ngài yêu thương giáo dân, luôn đấu tranh
để bảo vệ quyền lợi của họ trước những đàn áp, bất công. Khi ngài chết, thể
theo nguyện vọng, giáo dân đã chôn ngài cạnh mộ cha Tài trên ngọn đồi phục sinh
này. Để ở nơi cao nhất, cả hai ngài đều được đón mây ngàn gió lộng và bốn mùa
ngắm nhìn giáo xứ thân yêu”.
Cha Vinh Sơn ngừng kể,
mắt nhoà đi vì ngấn lệ.
- Ôi! Câu chuyện thật
xúc động! – Hoàng nói và ngước nhìn lên cao. Bầu trời lúc này, những đám mây
với đủ hình thù đang lững lờ trôi, đôi chỗ vì phản chiếu ánh nắng mặt trời mà
trở nên lấp lánh ngũ sắc, tựa như một cảnh tượng nơi thiên đường.
o0o
Trên đường trở về, lúc
đi ngang qua ngôi mộ đôi, cả hai người cùng dừng bước. Lần này không chỉ linh
mục, mà cả vị khách cũng đứng lặng im, cúi đầu.
Cha Vinh Sơn nhìn đăm
đăm vào những dòng chữ ghi trên hai tấm bia, giọng âm thầm:
- Cha tin vào sự phục
sinh. Đó là lời mạc khải của thiên chúa trong sứ vụ cứu rỗi loài người. Chúa đã
phục sinh, cả cha Tài, cha Nam cũng sẽ phục sinh. Giống như các thánh tử đạo,
các cha đã phải chịu khổ nạn để nước chúa tôi được vinh hiển đời đời.
Nhà văn chắp tay, bộc
bạch:
- Những xung đột giữa
các nền văn hoá không thể giải quyết bằng bạo lực, càng không phải bằng sự kỳ
thị hay phân biệt ý thức hệ, mà phải từ sự thấu hiểu và cảm thông sâu sắc. Với
lòng nhân ái và yêu thương, nhân loại sẽ đến được bến bờ hạnh phúc. Thưa cha!
- A men! – Cha Vinh Sơn niệm và đưa tay làm
dấu phép.
Đoạn đường còn lại, cả
hai người bước đi trong im lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng, nhưng
nhìn vẻ mặt xúc động của họ thì dường như những xúc cảm về câu chuyện ban nãy
vẫn còn chưa hề nguôi ngoai trong tâm trí.
Những người đi lễ sáng
cũng đã bắt đầu lục tục ra về. Từ phía cửa chính nhà thờ, họ bước xuống những
bậc tam cấp và toả đi các hướng của sườn dốc thoai thoải để rồi ai về nhà nấy.
Trong làn nắng sớm, những tà áo dài của các thiếu nữ thấp thoáng và bừng lên
như một vườn hoa đang khoe sắc.
Về đến sảnh nhà mát,
Hoàng dừng lại.
- Chào cha! Hẹn gặp
lại cha!
- Bình an cho anh! – Linh mục nói và cứ thế, ông nhìn theo người khách cho đến khi cái bóng dáng quen thuộc ấy khuất dần, xa dần phía sau cánh cổng sắt cao lớn của nhà thờ.
