Thứ Hai, 10 tháng 3, 2025

Lão KiBo

 

Truyền thuyết kể lại rằng: Thời xưa, để bảo vệ của cải đã tích luỹ được, những người giàu có thường hay cất dấu chúng bằng cách chôn vùi xuống đất. Đồng thời, nhằm trấn yểm, họ còn chôn theo xuống đó thân xác của một cô gái đồng trinh nữa. Linh hồn của những cô gái này rất thiêng, sẽ trông chừng và canh giữ cho hầm mộ được bình an vô sự. Và người ta gọi đó là thần giữ của. Thần giữ của biến hoá khôn lường, khi thì trong hình hài của một con rắn, lúc lại là một loài linh thú khác để xua đuổi những kẻ gian tà, trộm cướp. Người ta đã chứng kiến rất nhiều trường hợp những kẻ xâm phạm kho báu bị thần trừng phạt và báo oán, thường thì mất mạng, nếu không thì cũng trở nên mất trí, điên loạn. Nhờ có thần giữ của ngày đêm canh giữ, trãi qua hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, của cải vì vậy vẫn còn nguyên vẹn mà không hề bị lấy đi. Những hầm mộ bí ẩn và lạnh lẽo ấy, theo thời gian, chỉ còn tồn tại trong ký ức cùng câu truyện kể truyền kì của các thế hệ mai sau.

Nhưng đó là truyền thuyết. Còn ngoài đời thực, đôi khi thần giữ của lại xuất hiện trong hình hài của một con người bình thường, thậm chí hết sức bình thường, duy chỉ có tính cách của họ là khác thường mà thôi.

 KiBo là một lão già lụ khụ đã ngoài bảy mươi tuổi. Người lão tầm thước, dáng đi chậm rãi và hơi lòng khòng. Trên cái đầu hói lên tận đỉnh ấy, những món tóc hoa râm xoắn xít, dài và lấp lánh như sợi bạc. Da lão ngăm đen, săn lại như sắt, như đồng. Với tính cách trầm lặng, môi lúc nào cũng mím chặt, chẳng mấy khi người ta nhìn thấy lão cười cả. Cứ như thế, thiên hạ có cảm giác, mỗi nếp nhăn, mỗi đường nét trên cơ thể lão đều được hun đúc nên bởi một thứ chất liệu bền bỉ và cứng cáp tựa như kim tiền vậy.

Gia đình lão KiBo truyền đời khá giả, của cải cũng có đến mấy thế hệ tích cóp. Ông nội lão làm tri huyện, bố lại là một đại địa chủ nức tiếng. Đến đời lão thì chỉ còn là một lão nông chi điền. Là con một, của cải cha ông cũng vì vậy mà gom hết vào một mình lão. Tuy chỉ là nông dân, nhưng tiền của lão cũng có đến ức vạn vì được thừa tự phúc ấm tổ tiên. Sự đời nhiều khi cũng thật trớ trêu, giàu có là thế, nhưng tính cách lão ta thì lại keo kiệt đến mức…ỉa ra cứt sắt.

Lão KiBo ở trong một căn nhà mái bằng ba gian rộng rãi với bếp núc đầy đủ. Ngoài ra còn có vườn cây, ao cá. Có điều lão chỉ trồng toàn cây ăn trái và rau củ mà thôi, tịnh không có lấy một cây hoa, cây cảnh nào hết. Lão cho rằng, cây cảnh là giống vô dụng, vì chúng chẳng mang lại hiệu quả kinh tế gì sất.

Nhiều người đến chơi, khuyên lão nên trồng thêm cây hoa, cây cảnh cho đẹp cửa, đẹp nhà. Lão đáp:

- Với tôi: Hoa đẹp nhất là hoa cà, hoa cải. Cây cảnh tốt nhất là cây bưởi, cây xoài.

Mà ngẫm cho cùng thì lão nói đúng thật. Những loài hoa kia cũng đẹp chứ sao, ngoài ra, lại còn cho rau cho quả nữa chứ.

Trong cuộc sống thường ngày, lão KiBo nắm hết quyền tài chính trong gia đình và tự mình quyết định mọi công việc chi tiêu. Lão làm như vậy, cốt làm sao để tiền bạc của mình không bị lọt ra ngoài, giống như một cái túi tham không đáy, chỉ có vào mà không có ra. Có thể nói, cả một đời lão sống tằn tiện, ăn không dám ăn, mặc cũng không dám mặc vậy.

o0o

Vợ lão KiBo chết cách đây đã bảy năm. Người ta nói bà lão mất mạng là vì cái tính ki bo của ông chồng. Bà sống đã phải làm việc vất vả, lúc ốm đau cũng chẳng được thuốc thang, tẩm bổ gì hết, cuối cùng thì kiệt sức mà chết. Khi vợ qua đời, lão KiBo còn không nỡ bỏ tiền ra để mua một cỗ quan tài tốt. Cuối cùng, người ta đành phải đốn hai cây xoan trong vườn để đóng cho bà lão một cỗ quan tài bằng gỗ tạp. Lão nói, chết rồi thì thế nào mà chẳng được. Không quan tài thì bó chiếu mà chôn cũng xong, cần gì phải gỗ tốt cho tốn kém. Người đầu gối tay ấp với mình cả đời mà lão còn nói như thế đấy. Với lão, chỉ có tiền là quan trọng, là thứ mà lão yêu quý nhất, còn hơn cả tình thân.

Vì sợ người ta biết mình giàu, lão KiBo chôn tiền dưới gốc một cây Thị cổ thụ ở góc vườn nhà mình. Lão chọn chỗ này, vì ở đây kín đáo, ít có người qua lại, dòm ngó. Lão dùng thuổng đào một cái hố lớn và vuông vức. Những hũ sành đựng đầy tiền, vàng được cho vào một cái rương gỗ rồi đậy nắp, khoá lại. Sau đó lão lại đặt cái rương xuống hố và lấp đầy đất lên trên. Cứ thế, có bao nhiêu tiền là lão lại bỏ vào trong rương để cất dấu. Thi thoảng, nhân lúc không có ai, lão lại lén ra vườn, đào kho báu của mình lên để kiểm tra. Lão KiBo ngắm tiền nhiều thành nghiện, mỗi lần như vậy, ánh mắt của lão lại sáng rực lên những tia sáng man dại với một niềm khoái cảm vô biên.

Lão dự định sẽ là người độc quyền chiếm hữu số tài sản ấy cho đến tận hơi thở cuối cùng của cuộc đời. Để rồi đến phút chót, sẽ giành lấy chiến thắng oanh liệt ấy như một vị chiến thần vô địch ở ngoài mặt trận. Vì vậy mà dù có tên là KiBo hẳn hoi, nhưng người đời vẫn thường gọi lão là “Thần giữ của”.

Về đường con cái, lão KiBo chỉ có một người con trai duy nhất tên là Vương. Tiếng là con nhà giàu, nhưng Vương cũng phải sống một cuộc sống hết sức kham khổ. Chẳng bao giờ anh có lấy một đồng, một cắc nào trong tay, vì vậy mãi đến gần ba mươi tuổi mà anh vẫn chưa thể lấy được vợ.

Lão KiBo giữ tiền chặt như Bạch Tuộc quấn lấy con mồi, chẳng tài nào mà gỡ ra cho được. Cuối cùng, hết cách, anh con trai đành phải quyết định lên thành phố làm thuê để kiếm tiền. Có như thế thì may ra anh mới cưới được vợ, còn như dựa vào ông bố keo kiệt của mình thì chỉ còn nước chết già ở xó quê mà thôi.

Dư luận cho rằng, lão KiBo chỉ có hai bộ quần áo để mặc. Mùa nóng thì lão mặc một bộ đồ ka ki màu xanh lá. Cái áo rộng thùng thình, cổ bẻ và có hai túi phình to ở phía dưới, kiểu như áo lính NaTo. Mùa lạnh thì lão mặc thêm chiếc áo len cao cổ vào trong, rồi lại khoác áo ka ki ra bên ngoài. Những hôm lạnh quá, lão đi thêm đôi tất cho ấm chân là được. Vậy là xong, chẳng cần phải giày, ủng gì cho tốn kém, phiền nhiễu. Lão gọi mỉa những người ăn mặc sang trọng là lũ hề thích làm đỏm, nom chẳng khác nào người ta đang đóng tuồng, diễn kịch trên sân khấu cả.

Lần ấy lão KiBo muốn có một cái chuồng để nhốt gà, bèn bàn chuyện này với đứa cháu họ tên Tùng. Tùng bấm đốt tay, nhẩm tính:

- Một cái chuồng gà khung sắt và lưới đan bằng nhôm cũng tốn khoảng ba triệu. Bác bỏ tiền ra, cháu sẽ thuê thợ họ làm cho.

Lão phát hoảng, la lên:

- Những ngần ấy tiền cơ à? Thế thì tao thà làm chuồng gà bằng nứa còn hơn.

Rồi lão rủ:

- Ngày mai đi với bác lên rừng. Hai bác cháu ta sẽ đốn nứa về rồi cùng đan chuồng gà nhé.

Dù ngần ngại, nhưng vì cả nể, anh cháu đành phải nghe theo. Sáng hôm sau, hai bác cháu mang theo hai cái rựa sáng loáng rồi đi vào rừng. Đốn từ sáng đến trưa thì cũng được hai vác nứa lớn. Bác cháu cột chặt rồi vác lên vai đi về. Đến chỗ dốc đứng, đường khó đi, lão KiBo vô tình vấp chân vào một hòn đá và ngã lăn kềnh ra. Bó nứa văng sang một bên, còn người lão thì lăn lông lốc mấy vòng như một khúc gỗ tròn. Anh cháu hốt hoảng, quẳng ngay bó nứa xuống, rồi vội đỡ ông bác ngồi lên một tảng đá. Một bên đầu gối lão bị va vào đá, ống quần rách bươm, máu chảy đầm đìa. Nhìn cái đầu gối nứt toác ra, đỏ lòm, Tùng vội đi tìm bứt một nắm cỏ mực, bỏ vào miệng nhai rồi đắp lên vết thương cho lão.

- Tội nghiệp quá! Đầu gối toác hết cả rồi. Bác cố chịu đau nhé! – Tùng siết mạnh miếng vải để cột chặt vết thương cho ông bác, miệng không ngừng xuýt xoa.

Mặc dù mặt đã dại đi vì đau và vì mất máu, nhưng mắt lão chỉ nhìn xoáy vào chỗ quần bị rách, nói:

- Đầu gối bị thương thì có hề gì. Tao chỉ tiếc cái quần bị rách thôi!

Nghe câu ấy, những người bình thường chắc sẽ ngạc nhiên lắm, nhưng với một người coi trọng đồng tiền hơn cả tính mạng như lão KiBo thì điều đó cũng chẳng lấy gì làm lạ cả.

Ông cháu lắc đầu, ngán ngẩm:

- Cái quần này bác đã mặc bao nhiêu năm rồi còn gì. Cũng thay cái khác được rồi, còn tiếc làm gì nữa.

Mắt lão sáng lên:

- Ấy đấy, chính vì nó gắn bó như thế nên tao mới tiếc đấy!

o0o

Sáng chủ nhật, sau khi cho cá ăn xong, lão KiBo ngồi ngả lưng xuống chiếc ghế đá cạnh bờ ao để nghỉ ngơi một lúc. Nhìn lũ cá quẫy đuôi đớp mồi, phô ra những lớp vảy xanh, vảy vàng óng ánh, lòng lão dâng lên một niềm sung sướng vô bờ. Một vụ thu hoạch cá nữa lại sắp đến. Với một con người có đầu óc kinh tế như lão, dĩ nhiên là nuôi cá để bán chứ đâu chỉ để ngắm. Người ta thì hoặc là nuôi cá thành phẩm để bán, hoặc nuôi cá cảnh để thoã mãn thú chơi. Nhưng với lão KiBo thì khác, nuôi cá phải đạt được cả hai mục đích, vừa bán kiếm tiền, vừa để ngắm. Như vậy là một công đôi việc. Thế đấy, cái tư duy của người keo kiệt và thực dụng bao giờ cũng phi thường như vậy đấy.

Đã ở thế kỷ hai mốt, thế nhưng cuộc sống của lão KiBo gần như là tự cung, tự cấp. Cá dưới ao, gà ở trong chuồng, rau củ ngoài vườn, muốn gì có nấy, chẳng việc gì mà phải phụ thuộc vào ai cả. Không những thế, phần dư ra lão còn mang đi bán để kiếm tiền. Như vậy, chẳng những không phải mất tiền cho thiên hạ, ngược lại tiền còn chảy thêm vào túi mình nữa.

Triết lý sống của lão KiBo là: Tăng cường dùng thứ của người khác, hạn chế dùng thứ của mình.

Thoảng theo chiều gió, từ xa có tiếng nhạc xập xình, tiếng hát hò vọng lại. Trong làng hôm nay có đám cưới, một gia đình tổ chức hôn lễ cho người con trai cả của họ. Nhưng lão KiBo thì chúa ghét đám cưới. Cứ đến mùa cưới hỏi, hoặc là lão đóng cửa ở trong nhà hoặc bỏ đi chơi đâu đó. Gọi là trốn như trốn nợ. Đám cưới là hỉ sự, là khởi đầu của sinh sôi nẩy nở nhân loại, cớ sao lão KiBo lại căm ghét như vậy? Nguyên do là vì tiền cưới. Lão sợ phải mừng cưới.

 Bữa nay lão ở nhà cho cá ăn là cũng có ý trốn, vì đám cưới này người ta phát thiệp mời cho cả làng. Giữa lúc lão KiBo đang mãi mê ngắm cá thì chợt nghe có tiếng ai đó gọi ý ới ngoài cổng. Lão ngó ra thì thấy có mấy người ăn vận lịch sự đang rồng rắn đi vào.

Biết là họ đến để rủ mình đi ăn cưới, lão KiBo định lặng lẽ chuồn vào trong nhà. Nhưng đã không còn kịp nữa rồi. Một người đã nhìn thấy lão và kêu lên mừng rỡ:

- Lão KiBo đây rồi! Chúng ta đi đám cưới thôi!

Lão đứng lên, gãi đầu sồn sột:

- Nhưng nhà ấy với tôi xưa nay có đi lại gì đâu. Vả lại, cũng chẳng thấy mời mọc gì cả…

Một người khác xoa cằm, thắc mắc:

- Lạ nhỉ! Rõ là người ta mời cả xóm kia mà?...

- Ừ, thì cũng có mời – Lão KiBo vội đính chính – Nếu vậy thì để tôi đi…

Những người kia lấy ra một cái phong bì, rồi mỗi người góp vào đó hai trăm ngàn. Đến lượt mình, lão KiBo chần chừ:

- Tôi bỏ trăm rưỡi được không. Nhà tôi chỉ còn ngần ấy thôi?

Những người giàu thì hay than nghèo, kể khổ. Lão KiBo nhà ta cũng không phải là ngoại lệ vậy.

- Không được đâu. Chúng tôi đều đồng hạng hai trăm cả. Nếu muốn mừng trăm rưỡi thì phải bỏ phong bì riêng, lão KiBo ạ! – Một cụ bận comple lên tiếng.

Biết không thể kì kèo được, lão KiBo đành phải bấm bụng góp hai trăm ngàn. Nhưng trước khi bỏ tiền vào phong bì, lão không quên lầu bầu:

 - Gì mà đắt đỏ thế không biết. Chúng nó định kinh doanh đám cưới đấy chắc? Thật là ăn cơm giá cao mà. Với chừng nấy tiền, tôi có thể sống ung dung được cả chục ngày cơ đấy.

Đặc tính của những người chỉ sống vì tiền là vậy. Một khi đã động đến túi tiền của họ, dù chỉ là một xu nhỏ, bạn cũng sẽ bị họ nguyền rủa đến ba đời. Thậm chí, họ còn lôi hết những gì là xấu xa, kém cỏi nhất của bạn ra để mà chì chiết và sỉ vả một cách vô cùng cay nghiệt nữa.

Lúc mọi người giục mặc quần áo đẹp vào, lão KiBo tặc lưỡi:

- Thế này lịch sự chán ra rồi. Việc gì mà phải bày vẽ cho nhiêu khê!

Ăn cỗ cưới xong, mọi người trong mâm lục tục đứng dậy ra về. Riêng lão KiBo thì vẫn còn ngồi lại. Lão thủng thẳng lấy từ trong túi ra một cái bao nilon đã chuẩn bị sẵn từ trước. Rồi từng thứ một, lão trút hết thịt gà, lòng xào, bánh chưng, bánh ngọt…vào đấy. Tóm lại là tất cả những gì trút được lão đều trút hết. Chứng kiến cảnh ấy, những người ngồi gần chỉ dám hé mắt nhìn, rồm tủm tỉm cười mà lờ đi như không biết. Bố chú rể đứng ở góc rạp, nhìn chằm chằm vào lão với một ánh mắt đầy vẻ tức tối. Đến lúc thấy lão trút nhẵn mâm cỗ thì không còn nhịn được nữa, bèn tiến đến, hất hàm hỏi:

- Này lão KiBo! Những người khác ăn xong đều đã về cả rồi. Lão có thấy ai làm như vậy không hử?....

Lão KiBo vênh cái mặt đỏ dừ vì rượu lên, lý luận:

- Chúng tôi mang tiền đến mừng. Ăn thừa thì phải mang về chứ sao? Không thì lỗ à? Tây nó cũng thế đấy!

Sợ làm to chuyện thì sẽ hỏng mất cuộc vui, ông bố đành cố nuốt cục tức, nắm chặt hai bàn tay mà hậm hực bỏ đi. Lão KiBo đứng lên, chẳng thèm chào ai cả, xách cái túi đồ thừa bình thản ra về, hiển nhiên như là mặt trời mọc ở đằng đông vậy.

Người ta nói rằng, những người keo kiệt có hai đặc điểm nổi trội là sạch sẽ và sòng phẳng. Họ sợ mất tiền cho người khác, cho nên cái gì cũng gọn gàng, sòng phẳng. Vì ý thức được quyền tư hữu của mình, họ cũng rất tôn trọng quyền tư hữu của người khác.

Với người hào phóng, cho đi là hạnh phúc. Còn với người keo kiệt, hạnh phúc là giữ chặt túi tiền của mình. Đối với họ, tiết kiệm là lý tưởng, là động lực sống, là kim chỉ nam cho mọi hành động vậy.

o0o

Chiếc xe cứu thương màu trắng có in hình chữ thập đỏ của bệnh viện chạy thẳng một mạch vào trong sân rồi đỗ xịch lại. Vài người hàng xóm cùng mấy đứa con nít nữa cũng tò mò theo vào, xúm xít chỉ trỏ, bàn tán. Lão KiBo lúc ấy vừa chụp cái mũ vải lên đầu định đi thăm đồng, nhìn thấy cảnh ấy thì đứng ngớ người ra mà chẳng hiểu cơ sự gì.

Cửa xe mở, người ta khiêng ra một chiếc băng ca, người nằm trên đó là Vương, con trai ông. Lão KiBo tấp tểnh bước theo, hỏi dồn:

- Nó bị làm sao thế?

- Anh ấy bị tai nạn lao động, chấn thương sọ não rồi dẫn đến liệt tứ chi! – Người bác sĩ mặc blouse trắng đi kèm đáp.

Người ta đặt Vương lên cái giường ở góc phòng. Anh ta nằm thiêm thiếp, làn da trắng bệch, ánh mắt trống rỗng, vô hồn. Khi nhìn thấy lão KiBo, Vương lặng lẽ quay mặt vào trong, vài giọt nước mắt trong suốt rịn ra trên khuôn mặt đầy vẻ đau khổ, bất lực.

Người bác sĩ to béo nhìn lão KiBo, hỏi:

- Ông có phải là bố bệnh nhân?

- Phải!

- Phiền tôi muốn gặp riêng ông một lúc!

Lão KiBo dẫn vị bác sĩ đi đến chỗ bàn khách và ngồi xuống.

- Chuyện là thế này – Bác sĩ nhíu mày, nói – Tình hình của anh Vương khá nghiêm trọng. Chúng tôi đã cấp cứu cho anh ấy qua cơn nguy kịch. Nhưng để có thể hồi phục, cần phải nhập viện để điều trị lâu dài. Chi phí là khá lớn…

- Bao nhiêu?

- Thủ tục nhập viện, chi phí điều trị và chăm sóc ban đầu, ước tính cũng khoảng vài trăm triệu!

- Những hai trăm triệu? – Lão  KiBo trố mắt kinh hãi.

- Phải vậy ông ạ!

Lão KiBo nảy lên như đỉa phải vôi:

- Nhưng tôi thì làm sao mà có ngần ấy tiền cơ chứ. Nó bị tai nạn thì đã có bảo hiểm rồi kia mà?

Người bác sĩ nói:

- Người chủ đã không mua bảo hiểm lao động cho công nhân. Mà anh ấy cũng không có cả bảo hiểm y tế nữa!...

Lão KiBo cắn chặt môi đến muốn bật máu, lát sau lão thở hắt ra, nói với một giọng dứt khoát:

- Nếu vậy thì cứ để nó tàn phế cũng được. Tôi đây cũng chẳng có tiền để chạy chữa đâu!

Vị bác sĩ mở to mắt nhìn lão KiBo một cách kinh ngạc. Đây là lần đầu tiên ông nghe thấy những lời như vậy từ phía người nhà bệnh nhân. Nếu là một trường hợp vô phương cứu chữa thì khác, đằng này, mọi thứ vẫn hoàn toàn có thể cứu vãn được. Nhưng khi nhìn thấy nét mặt đã đanh lại như một khối thép không rỉ của lão, ông biết là không thể lay chuyển nổi con người sắt đá và lạnh lùng này. Lát sau, ông thở dài, rồi đưa cho chủ nhà một tấm danh thiếp:

- Với trách nhiệm của người thầy thuốc, chúng tôi phải nói vậy. Còn thì tuỳ ở ông. Đây là địa chỉ và số điện thoại của bệnh viện, ông có thể liên hệ sau khi đã suy nghĩ lại…

Nhưng lão KiBo đã không suy nghĩ lại. Lão có gì để phải suy nghĩ kia chứ. Với lão, mục tiêu duy nhất là không để một đồng tiền nào lọt ra khỏi túi của mình, ngoài ra thì dù trời có sập cũng chẳng sao cả. Vì thế mà anh Vương, đứa con duy nhất của lão đã không được điều trị, đành phải trở thành một người tàn phế suốt đời. Cánh cửa tương lai của anh đã hoàn toàn bị đóng sập lại một cách tàn nhẫn sau lưng, bởi sự lạnh lùng và thờ ơ của người bố keo kiệt, coi tiền hơn tất cả. Từ đó anh nằm liệt giường, không cử động và cũng chẳng thể đi đâu, bất động như một hình nhân thực vật.

Chừng hơn một năm sau, anh con trai, vì buồn thảm, tuyệt vọng, bệnh tình ngày càng trầm trọng rồi qua đời. Thế là lão KiBo phải chịu cảnh đầu bạc tiễn đầu xanh.

Đứa con trai duy nhất chết, lão KiBo chỉ nhỏ được vài giọt nước mắt dè sẻn. Tất cả chỉ có vậy. Còn thì sau giây phút ấy, mặt lão lại lạnh như tiền, như thể còn có những công việc khác quan trọng và lớn lao hơn cần phải bận tâm không bằng. Thứ mà lão bận tâm thì ai cũng rõ rồi, đó chính là “Tiền”, cái thứ ấy nó vô cảm, lạnh lùng và tàn nhẫn lắm.

Trong khi những người khác phủ phục khóc thương, lão KiBo chỉ ngồi vò đầu, bóp trán suy nghĩ. Lão nghĩ gì lúc này nhỉ? Thì ra là lão đang lo phải mất tiền để mua quan tài. Thế rồi một ý nghĩ tuyệt vời chợt loé lên trong đầu lão như tia chớp rạch màn đêm. Đang ngồi trên ghế, lão vỗ mạnh vào trán và thốt lên một cách khoái trá:

- Phải rồi!

Sở dĩ lão vui mừng như thế, vì đã giải được nan đề cho cỗ quan tài đứa con trai. Việc này đã có tiền lệ, lão chợt nhớ ra là hồi vợ lão chết, người ta cũng đốn hai cây xoan trong vườn để đóng quan tài.

Thế là lão đứng bật dậy, mặc cho thân xác đứa con vẫn nằm đó lạnh như băng, lão vội vàng đi gọi thợ. Chừng mấy phút sau, hai anh thợ mộc theo lão KiBo vào vườn. Lão chỉ tay vào mấy cây xoan cao lớn ở góc vườn và nói:

- Các anh đốn hai cây xoan này để lấy gỗ mà đóng quan tài nhé. Nhưng nhớ là không được đốn thêm đâu đấy. Vì như thế sẽ thừa gỗ, phí ra!

o0o

Làm đám ma cho con trai xong, lão KiBo lại quay về với cuộc sống đời thường. Lão vẫn điều độ, vẫn dè sẻn và yêu tiền như trước.

Một buổi sáng cuối xuân, khi sương sớm vừa tan, lão KiBo lại thong thả đi ra góc vườn để kiểm tra kho báu của mình như thường lệ. Nhưng khi bước chân vừa dẫm lên những đám lá lạo xạo dưới gốc Thị, lão chợt giật nẩy mình bởi cảnh tượng bày ra trước mắt. Thay vì lớp đất bằng phẳng để nguỵ trang như mọi khi, giờ này cái kho báu của lão đã bị xới tung lên, chỉ còn lại một cái hố sâu hoắm và đen ngòm như huyệt mộ. Không tin vào mắt mình, lão run rẩy khuỵu xuống, rồi cứ thế lê hai đầu gối đến chỗ cái hố để mà nhìn cho rõ. Nhưng cái rương đã bị kẻ trộm lấy đi, không còn nằm ở đó nữa. Trong cơn tuyệt vọng, lão KiBo dùng hai bàn tay chai sần và đen đúa của mình vừa lần tìm, vừa bới tung những nắm đất lên như một con chuột chũi đang hí hoáy đào hang. Vừa bới, lão vừa gào lên như mất trí:  “Tiền tôi đâu?...Tiền tôi đâu?...”

Thế là mất hết, thế là sụp đổ. Lão thấy đầu mình nhức như búa bổ, mắt hoa lên, cây cối xoay mòng. Trời ơi! Đau quá đi mất, đau thế này thì chịu làm sao nổi. “A!...a!...” – Một tiếng thét bất ngờ vang lên thảm thiết, rồi lão đưa hai tay ôm lấy đầu, lảo đảo. Phát hiện ra kho báu của mình đã không cánh mà bay, vị thần giữ của mang tên "KiBo" trứ danh của chúng ta đã lăn đùng ra bất tỉnh.

Lão KiBo không chết, nhưng từ đó, lão bỏ nhà đi lang thang. Trong những buổi sáng sớm hay chiều muộn nơi miền quê vắng vẻ, thi thoảng người ta lại bắt gặp hình ảnh lão lê la nơi đầu đường, xó chợ. Quần áo rách bươm, tóc tai thì rũ rượi, vừa đi, miệng lão vừa lảm nhảm:

- Trả tiền ta đây!...Trả tiền ta đây!...

 Người ta nói rằng, lão KiBo đã phát điên vì tiếc của.  

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2025

Bộ bài Tây

 

Chu Thái và Anh Tuấn vốn là một cặp bài trùng nổi tiếng trong làng cờ bạc Hà Tây. Giữa muôn vàn tinh tú của giải ngân hà, họ chính là ngôi sao sáng nhất, là hai con rồng ngạo nghễ vậy. Chu Thái có lối đánh chân phương nên được gọi là “Bạch Long”, còn Anh Tuấn chính là “Hắc Long”, bởi vì trong tay anh luôn sở hữu những ngón nghề ghê gớm và tinh xảo bậc nhất xưa nay. Một đen một trắng, hai người kết hợp với nhau trở thành một cặp song sát hoàn hảo, thiên hạ vô địch. Có tài thì ắt phải có danh, bởi vậy mà họ được giới trong nghề nhất loạt tôn xưng là: “Thần bài đất Bắc”.

Kể từ khi xuất hiện, dù là đấu tay đôi hay chéo cánh, hai người họ chưa bao giờ gặp thất bại. Ngoài cái tài đánh bài vô địch, “Thần bài đất Bắc” còn nổi danh với lối chơi đẹp. Sau mỗi lần thắng cuộc, họ sẵn sàng trả lại tiền cho đối phương nếu xét thấy hợp nhẽ. Nhiều khi họ cũng coi việc đánh bài như là một cuộc tỉ thỉ để lĩnh hội tài năng, chứ không phải là để hơn thua, cao thấp.

Thiên hạ thường kháo nhau về bộ bài tây mà lúc nào “Hắc Long” cũng kè kè mang theo bên mình. Đó chính là vũ khí bí mật, khiến cho họ đánh đâu thắng đấy, hễ chơi là được, hễ ngồi vào chiếu là có tiền. Bộ bài ấy được đánh dấu rất kín, từ con Át cho đến con K. Việc đánh dấu này riêng họ biết, chỉ cần liếc qua là có thể nhận ra ngay đó là quân bài gì. Thành ra, tiếng là đánh bài sấp, nhưng kỳ thực họ đang chơi bài ngửa vậy. Trong lúc ngồi chéo cánh, họ còn có những kí hiệu riêng để phím cho nhau. Nhờ vậy mà họ biết nên giữ lại quân gì, đánh ra quân gì để dẫn dụ đối phương.

o0o

Cho đến tận bây giờ, người ta vẫn còn kể cho nhau nghe về cuộc tỉ thí năm ấy giữa “Thần bài đất Bắc” và hai cao thủ khác từ miền nam ra.

Một buổi sáng cuối thu, hai vị khách xuất hiện trong những bộ âu phục lịch lãm: Giày tây đen, com lê thắt cà vạt, tay xách ca táp căng phồng. Phong thái thật chẳng khác nào những bậc phong lưu tài tử. Ngược lại, “Thần bài đất Bắc” ra mắt với trang phục giản dị như tính cách vốn có của họ. “Bạch Long” khoác lên mình chiếc áo gió trắng, còn “Hắc Long” thì mặc áo đen.

Địa điểm được chọn cho trận so tài là một căn phòng nhỏ được bài trí khá đơn giản. Bên trong bày sẵn nước uống, thức ăn nhanh để đảm bảo trong suốt thời gian thi đấu không ai phải ra đến ngoài. Đúng tám giờ sáng, họ cùng nhau bước vào trong đó. Ngay lập tức, cửa phòng được đóng kín mít, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Trong phòng lúc này chỉ có bốn người họ với nhau, hoàn toàn đảm bảo sự khách quan không thiên vị.

Bốn người ngồi xếp bằng, cách nhau vài gang tay trên chiếc sập gụ nhẵn bóng. Vài giây im lặng, họ gật đầu, lịch sự chào nhau. Sau khi thống nhất thể lệ thi đấu, những lá bài mới cóng bắt đầu được chia thoăn thoắt, lẹ làng và không mảy may sai một li.

Vào trận, hai bên kình nhau, thăm dò nhau, rồi bắt đầu đỡ qua, đánh lại. Mỗi quân bài đánh ra đều phải được tính toán và cân nhắc thật kĩ lưỡng. Chỉ cần một sơ suất nhỏ, sẽ dẫn đến thất bại lớn, vì vậy mà phải hết sức cẩn trọng. Quân bài nào giữ lại thì kín như bưng, nhưng một khi đã đánh ra thì phải như sấm sét nổ ngang trời, khiến cho đối phương không tài nào đỡ nổi. Thật đúng là cao thủ đang xuất chiêu vậy. Trên chiếu bạc lúc này, trán người nào cũng nhíu lại đăm chiêu, hai bên thái dương, mồ hôi rịn ra thành giọt.

Kết thúc mỗi ván bài, họ lại mở chiếc cặp mang theo để thanh toán, bên trong đó được sắp đầy những xấp tiền có mệnh giá cao nhất.

Đương khi đánh, một cao thủ miền nam không kìm được, thốt lên:

- Thật là đỉnh cao! Thật là sảng khoái!...

Không gian trong phòng tĩnh lặng, tịnh không có một âm thanh hỗn tạp nào quấy nhiễu. Chỉ có tiếng hô, tiếng xướng, tiếng những quân bài đánh xuống mặt gỗ nghe tanh tách. Những điếu thuốc thơm được đốt cháy liên tục, cho thấy mức độ căng thẳng và khốc liệt của những ván bài. Thực là vô tiền khoáng hậu. Thực là kỳ phùng địch thủ.

Đến khoảng ba giờ chiều, cánh cửa phòng đột nhiên mở ra. Những ánh mắt tò mò cũng lập tức đổ dồn về phía ấy. Người ta thấy bốn người họ bước ra và đang bắt tay nhau, vừa đi vừa nói cười hỉ hả. Cái cảnh ấy thật hữu hảo, thật phi thường, trái ngược với không khí bất mãn thường thấy của những ván bài lúc tàn cuộc.

Một cao thủ Nam Kỳ khom lưng, bắt tay “Bạch Long”:

- Thật là danh bất hư truyền. Chúng tôi đây xin bội phục! Bội phục!

 Rõ ràng là các cao nhân, tài tử đang gặp gỡ nhau chứ chẳng phải là đánh  bài, đánh bạc gì sất. Ở đó, người ta chỉ thấy toát lên một cái tinh thần cao thượng, nghĩa hiệp, cũng như tấm lòng biệt nhỡn liên tài mà thôi.

Tại sao lại có cái không khí tàn cục vui tươi như vậy? Kỳ thực là toàn bộ số tiền đựng đầy chiếc cặp mà hai cao thủ miền nam mang theo đều đã thua hết, nhưng với tinh thần hữu hảo, "Thần bài đất Bắc" đã hoàn trả cho họ mà chẳng hề giữ lại một đồng xu nhỏ nào cả. 

o0o

Lần nọ, có một gã lái trâu từ vùng khác đến. Khi nghe đến danh “Thần bài đất Bắc” thì hắn tỏ ra bán tín bán nghi. Mới đến hôm trước, hôm sau hắn đã ra mắt “Hắc Long” và yêu cầu được tỉ thí với anh để phân tài cao thấp.

Gã này thân hình cao lớn, mặt vuông, lông mày chổi sễ. Chân gã đi giày khủng bố, người diện nguyên bộ đồ bò bạc phếch, mới nhìn qua đã biết được ngay là dân giang hồ tứ chiếng. Tính gã đam mê đỏ đen, từng lân la bài bạc khắp ga tàu bến xe trên cả nước. Cũng chính vì những thành thích bất hảo ấy mà gã tự tin vào ngón nghề của mình lắm. Đang ôm sẵn một đống tiền đi mua trâu, gã quyết định sẽ đem hết tài năng của mình ra để mà tỉ thí với “Hắc Long” một phen sống mái.

“Hắc Long” không muốn đánh, nhưng thấy gã lái trâu cứ nài nỉ mãi, anh đành phải miễn cưỡng tiếp chiêu hắn. Vả lại, một khi đã trở thành cao thủ, người ta không thể né tránh những lời thách đấu như vậy từ đối phương.

Vì chỉ có hai người tham gia, cho nên họ chọn đánh ba cây.

Vậy là một chiếu bạc đúng nghĩa đã được mở ra. Người ta trãi một chiếc chiếu cói ngay trên thềm gạch men cho hai đối thủ ngồi, ngoài ra, xung quanh còn có thêm mấy người đứng xem và chứng kiến nữa.

Mở đầu, Hắc Long cố tình nhường cho gã lái trâu mấy ván to. Nhìn đống tiền ngồn ngộn dưới chân mình, gã đắc ý nghĩ thầm: “Tưởng thần bài là thế nào, té ra cũng tầm thường thôi!”.

Bắt đầu một ván mới khác. Bàn tay “Hắc Long” lại thoăn thoắt chia bài.

Gã lái trâu giơ ba quân bài của mình lên, hé mắt xem: 3 cơ, 6 chuồn và át cơ. Như vậy là mười nước chẵn, lại có át cơ bảo lãnh.

Gã mừng quýnh, chắc mẫm lần này mình lại thắng to.

Nhưng gã đâu biết rằng, đó chính là kế “Thả để bắt” của “Hắc Long”.

“Hắc Long” hết nhìn những quân bài của đối phương, lại nhìn xuống những quân bài của mình dưới chiếu, trầm ngâm suy nghĩ.

Lát sau, anh ngẩng lên, nhìn xoáy vào mắt đối thủ, nói:

- Chúng ta chơi cũng đã lâu rồi. Bây giờ tôi đề nghị đánh một ván tất tay. Ai có bao nhiêu tiền trong người đều mang ra đánh hết. Ai thắng, ai thua đều nghỉ! Anh thấy thế nào?

Gã lái trâu thấy quân bài của “Hắc Long” vẫn chưa mở ra, trong khi bài của mình lại mười nước, bèn đảo mắt nghĩ: “Hoạ có thần tiên phù hộ thì hắn mới thắng được ván này. Nếu hắn cũng mười nước, lại có át rô bảo lãnh thì mới đè nước bài của mình được. Nhưng xác suất này là rất nhỏ, chỉ độ một phần trăm mà thôi. Hiếm khi xẩy ra lắm!”.

Tin là mình sẽ thắng, gã lái trâu đập mạnh tay xuống chiếu, nói như đinh đóng cột:

- Được! Tôi quyết định đánh nước bài này!

Tất cả những người đứng xem đều hồi hộp, nín thở để chờ đợi.

“Hắc Long” bắt đầu nhón tay, chậm rãi lật các quân bài của mình lên: 4 chuồn… 5 bích…

Còn một con cuối cùng chưa lật, vẫn nằm yên trên chiếu. Mọi ánh mắt đều nhìn chằm chằm vào quân bài ấy, có người còn đưa tay lên che mắt, không dám nhìn thêm nữa. Quá hồi hộp, quá gay cấn.

Lúc này “Hắc Long” mới nhẹ nhàng chạm tay vào quân bài. Sau vài giây nhắm nghiền mắt như thiền định, anh bất ngờ vung tay lật mạnh quân bài lên.

- Át rô! – Những người có mặt nhất loạt vỗ tay, reo lên.

Hai con mắt ốc nhồi gã lái trâu nhìn trân trân vào quân bài mà như muốn nổ tung. Gã không dám tin vào mắt mình nữa: Đúng mười nước, có át rô bảo lãnh. Vậy là nước bài của “Hắc Long” đã đè nước bài của hắn.

“Hắc Long” đã sử dụng tuyệt chiêu. Trên đời, thử hỏi có mấy ai chia được hai ván bài mười nước, mà mỗi bên lại có át cơ, át rô bảo lãnh để dẫn dụ đối phương như thế?

Gã lái trâu sụp hẳn người xuống chiếu như một con thú dữ bị trọng thương. Vậy là cái điều mà hắn lo sợ nhất đã đến, cái xác suất một phần trăm rất nhỏ ấy đã thực sự xẩy ra. Nước mắt nước mũi ròng ròng, hắn quỳ sụp xuống chiếu mà lạy như tế sao:

- Muôn lạy đại ca! Ngàn lạy đại ca! Cả gia tài buôn bán của tôi đều đã thua nhẵn rồi. Vợ con tôi sẽ chết đói mất. Cúi xin đại ca, hãy thương tình mà trả lại tiền cho!...

“Hắc Long” nhíu mày, nhìn hắn một cách thương hại.

Đợi cho hắn dứt lời, “Hắc Long” bèn kiểm lại số tiền mà mình đã bỏ ra, số còn lại, anh trả hết cho gã lái trâu. Đoạn anh nhìn hắn, cất giọng ôn tồn:

- Nể tình vợ con anh, tôi trả lại tiền cho anh. Cờ bạc là bác thằng bần. Từ nay lo chí thú làm ăn, chớ có đam mê bài bạc nữa nghe!...

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2025

Tửu Thần

 Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu

Thoại bất đầu cơ bán cú đa.

(Rượu gặp tri âm ngàn chén thiếu

Tiếng không đồng điệu nửa câu thừa).

Chiều về trên con phố nhỏ. Tuy ánh nắng đã có phần dịu bớt, nhưng cái oi ả của mùa hè thì vẫn còn hầm hập như cố tình đeo bám, như thiêu như đốt con người ta. Trên mặt đường nhựa đen sì vẫn còn vương mùi khét lẹt như đám cháy, thi thoảng mới lại bắt gặp vài chiếc xe máy rồ ga chạy vọt qua. Những người có việc, cực chẳng đã phải đi bộ trên vỉa hè, vừa đi vừa nhón chân bước mau như có ma đuổi. 

Quanh chiếc bàn gỗ cũ kỹ của quán rượu tồi tàn, một đám người đang ngả ngớn ăn nhậu. Trên bàn bày la liệt những đĩa thịt luộc, rồi nào là cổ cánh gà, nem chả... ngồn ngộn. Chúng có tất cả năm tên, đứa nào đứa nấy đều lôi thôi lếch thếch và mặt mày bặm trợn. Ngồi chính vị là một gã râu quai nón mình trần trùng trục, có vẻ là đại ca hay chủ xị gì đó. Cổ áo của gã mở phanh, để lộ bộ ngực nở nang cùng với hình xăm một con chim đại bàng đang cất cánh bay. Nhìn qua đã biết, nếu không phải là lũ vô công rỗi nghề thì chúng cũng chỉ là một phường du thủ du thực. Loại người này chẳng có mục tiêu hay lý tưởng nào khác ngoài việc kiếm tiền và hưởng thụ. Thế nên chẳng có gì làm lạ, khi mà tất cả chúng đều tỏ ra hào hứng và coi thú ăn nhậu là lẽ sống duy nhất ở đời.

Ngôi quán nhỏ lúc này được lấp đầy bởi những tiếng nói cười, những âm thanh hò reo như quỷ ám.

Trong cơn hưng phấn, gã đại ta ngửa cổ tu một hơi cạn chén rượu, mặt mũi đỏ gay, đỏ gắt như mặt trời mọc. Một tên lâu la lập tức giơ ngón tay cái lên và nói bằng một giọng the thé đầy vẻ xiểm nịnh:

- Đại ca đúng là hảo…hảo tửu lượng!

Gã đại ca khoái chí vỗ ngực, nói đến líu cả lưỡi:

- Nói về…về… tửu lượng, ông đây chưa…chưa bao giờ…gặp đối thủ, nhé!...

Những đứa khác mắt đã dại đi vì rượu, nghe thấy thế thì cũng lập tức buông chén, rồi cùng vỗ tay đôm đốp mà rằng:

- Hảo tửu lượng!...Hảo tửu lượng!...

Phía sau quày hàng, người chủ quán tuổi trung niên vẫn ngồi bắt chân chữ ngũ trên chiếc ghế đẩu. Người gã thấp đậm, trên khuôn mặt tầm thường và đen đúa, có lẽ bộ ria con kiến được tỉa tót kỹ lưỡng là điểm nhấn duy nhất đáng để chú ý. Những âm thanh ồn ả do đám bợm nhậu gây ra chẳng hề làm gã bận tâm chút nào. Gã chỉ ngồi lặng yên, ánh mắt lơ đãng nhìn ra phía ngoài đường và thi thoảng lại đưa tay lên che miệng ngáp dài.

Chợt gã hơi nghiêng đầu, đôi tai nhỏ và nhọn hoắt như tai chuột dỏng lên như để nghe ngóng một điều gì đó. Phải rồi, đúng là người ấy! Những bước chân rất nhanh, rất khoẻ dội vào nền đường mỗi lúc một rõ dần. Tiếng bước chân mà gã đã nghe rất nhiều lần, không thể lẫn vào đâu cho được. Như một phản xạ có điều kiện, gã liền bỏ cả hai chân xuống đất, ngồi thẳng người lên như trong tư thế chuẩn bị đón chờ một điều gì đó hệ trọng.

Cánh cửa ra vào lúc này bổng dưng tối hẳn đi như bị một đám mây mờ che khuất. Một bóng người cao lớn xuất hiện, như ảo ảnh, như từ dưới lòng đất chui lên. Một lão già khoẻ mạnh, râu ria lồm xồm như chổi sể cùn bước vào trong quán. Lão mặc trên người một bộ quần áo bảo hộ lao động rách rưới, chân đi đôi dép tổ ong to bản như hai mũi xuồng. Lão tiến đến bên quày, thân hình bất động, miệng mím chặt như người câm. Người chủ quán như đã biết ý, nhanh tay lật ngửa cái cốc vại trên quày, rồi nâng can rượu trắng lên và cẩn thận rót đầy. Động tác rất vừa, rất khéo, khiến cho cốc rượu đầy mà lại không để rỏ ra ngoài một giọt nào cả. Lão già đưa bàn tay đen đúa và thô kệch nâng cái cốc lên, ngửa cổ tu một hơi cạn. Chủ quán rót đầy một cốc nữa, lão già lại uống cạn. Khuôn mặt lão ta chẳng có chút biểu cảm nào, chỉ tái nhợt chứ không hề ửng đỏ giống như một người vừa mới uống rượu xong. Tiếp theo, lão móc túi, lấy ra một tờ tiền nhàu nhĩ để thanh toán, rồi lững thững đi ra. Tất cả những việc ấy chỉ diễn ra trong vòng vài phút đồng hồ. Cả chủ quán và người khách lạ, chẳng ai nói với ai một lời nào. Dường như đã có một thoả thuận ngầm nào đó giữa họ, như một sự hiển nhiên phải vậy.

Nhìn cảnh ấy, tất cả đám bợm nhậu đều há hốc mồm ra vì kinh ngạc và thán phục. Chúng vừa được xem một vở kịch câm rất hay, rất mực chắt lọc và trọn vẹn. Chẳng ai bảo ai, chúng đưa mắt hết nhìn cái cốc vại trên bàn, rồi lại nhìn xuống những cái chén hạt mít mà chúng đang dùng để uống rượu. Thật là đối lập, thật là nực cười. Cứ thế mà suy, cái kiểu uống rượu của chúng so với lão già kia thật chẳng khác nào là một trò trẻ trâu, con nít cả.

- Này ông! Vị đại hán kia là ai vậy? – Gã đại ca nhìn chủ quán và hỏi với một vẻ mặt kinh hoàng.

- Đó là lão Lê, một khách hàng quen của tôi! – Chủ quán thủng thẳng đáp. Rồi như để giải thích, hắn nói thêm – Lão đã ngoài sáu mươi rồi đấy. Nhưng sức vóc và tửu lượng hẵng còn khoẻ lắm, thiên hạ chẳng mấy ai bì kịp đâu.

Dĩ nhiên là vậy rồi, vì cái cảnh vừa rồi đã nói lên tất cả. Một vài đứa trong bọn nhớ lại cái hình ảnh lão Lê nâng cốc rượu lên tu ừng ực mà không khỏi rùng mình kinh hãi. Cả đời chúng chưa từng thấy ai uống rượu mà khoẻ khoắn và thản nhiên như vậy cả.

Như bị thôi thúc bởi những bí mật ghê gớm hẵng còn dấu kĩ trong lòng, gã chủ quán ngồi xoay hẳn về phía bọn khách nhậu và bắt đầu cất tiếng kể.

Hồi trẻ, lão Lê vốn lực lưỡng và khoẻ mạnh như một con trâu mộng đến kỳ. Một mình lão cày mấy mẫu ruộng, rồi dựng nhà, khênh vác, việc gì đến tay lão cũng trở nên nhẹ nhàng, cứ gọi là chạy băng băng.

Lần ấy, nhân dịp lão Lê hai mươi tuổi, đám bạn bè bèn cùng nhau tổ chức lễ sinh nhật cho lão. Một bữa cỗ linh đình được bày ra, ngoài lão Lê, trong mâm lúc này còn có thêm khoảng mươi người tề tựu nữa.

Mở đầu, lão Lê rót đầy chén rượu rồi nâng lên ngang chân mày, nói:

- Nào! Để đáp trả thịnh tình. Tôi xin kính mỗi người một chén!

Rồi cứ thế, lão chúc hết vòng tròn một lượt. Sau đó, ai uống bao nhiêu lão cũng uống bấy nhiêu. Thành ra, một mình lão đã chấp những người kia những mười chén rượu vậy. Tiệc tàn, người thì không thể uống tiếp được nữa, kẻ thì say bò ra. Riêng lão Lê thì càng uống càng hừng hực, càng dũng mãnh như chúa tể sơn lâm.

Gã chủ quán ngừng lại giây lát như để lấy hơi. Nhìn những khuôn mặt đang há hốc mồm ra vì tò mò, gã đưa tay vuốt ria, rồi kể tiếp.

Hội làng năm ấy được mở rất to và náo nhiệt. Để đề cao tinh thần thượng võ, người ta đã tổ chức một cuộc thi uống rượu mạnh. Thử thách là mười hai chén rượu mắt mèo nổi tiếng, ai uống hết mà không say thì coi như thắng cuộc. Một chiếc xe đạp Phượng Hoàng mới cứng được treo lên để làm giải thưởng. Hồi ấy xe đạp là cả một gia tài, là niềm mơ ước của tất cả mọi người. Người ta chủ yếu đi bộ, cả làng cả xã, mấy ai có xe đạp để mà đi kia chứ. Tham của, đã có rất nhiều người đến thử. Thế nhưng người khoẻ nhất cũng chỉ uống đến chén thứ sáu thì đã say mèm. Ba ngày trôi qua, chiếc xe đạp vẫn treo ở đấy như thách đố, như trêu ngươi, thế nhưng cũng chẳng có ai giật được giải cả.

Hôm ấy cũng là tình cờ, lão Lê cùng đám bạn đi xem hội. Thấy thể lệ cuộc thi hấp dẫn, một người bạn liền hối lão Lê ghi danh.

Thế là một cuộc thi tài, thử sức đã được diễn ra.

Với một vẻ mặt đầy tự tin, lão Lê nắm chặt hai tay, xăm xăm bước đến trước mặt ban giám khảo. Mười hai chiếc chén tống đựng đầy rượu mắt mèo được sắp thành một hàng dài trên chiếc bàn bọc nỉ đỏ. Tiếng trống thùng thùng nổi lên thúc dục, đám người cổ vũ cũng bắt đầu vỗ tay la hét.

Người chủ trò mặc áo dài ngũ thân, dạng chân, đếm:

- Một…hai…ba…

Sau mỗi tiếng đếm là một chén rượu được lão Lê nâng lên và uống cạn.

- Bốn…năm…sáu…

Người ta tò mò, lo lắng, người ta mở to mắt nhìn lão Lê. Họ chờ đợi cái phút giây lão lừ đừ con mắt, lảo đảo tay chân rồi nằm vật xuống bãi cỏ vì say, vì choáng. Nhưng không, trái với người ta tưởng tượng, lão ấy càng uống càng tỉnh như sáo, mặt mũi vẫn tươi tỉnh như thường.

Đến chén thứ mười hai thì lão dừng lại, vì đã thắng cuộc, chứ chẳng phải vì lão không uống được nữa. Người ta vỡ oà vì sung sướng, người ta tán thưởng và lắc đầu lè lưỡi vì thán phục. Ai cũng cho rằng, giải thưởng năm nay đã thực sự được trao cho một người xứng đáng.

Lão Lê chắp tay cảm tạ mọi người, rồi điềm nhiên bước lên bục nhận giải. Sau khi đã bóp thử cả phanh trước lẫn phanh sau, lão leo lên chiếc xe đạp phượng hoàng mới cứng rồi thủng thẳng đạp về. 

Thật đáng bái phục, thật đáng kính nể. Lão chính là hậu duệ, là hiện thân của tửu thần Lưu Linh vậy. Cũng từ đấy, lão Lê chính thức được thiên hạ vinh danh là “Tửu Thần”.

- Hay dạ dày của lão được làm bằng i nốc không rỉ chăng? – Một đứa khách nhậu không kìm được, thốt lên.  

- Chẳng biết có đúng vậy không. Nhưng lão uống rượu chẳng say bao giờ cả. Cứ như là nước đổ vào đất xốp ấy, đổ đến đâu ngấm hết đến đấy – Chủ quán mỉm cười, đáp.

Lão Lê cũng có vợ con, nhưng vì khánh kiệt cho nên bây giờ lão chỉ ở một mình. Lão sống bằng cách bán sức lao động. Bốc vác, làm vườn, thợ hồ, ai thuê gì lão cũng làm tất, miễn là có tiền để uống rượu. Một buổi lão uống hai cữ, mỗi cữ là hai cốc vại đầy. Điều kỳ lạ là lão uống mà chẳng ăn gì cả. Giống như chiếc xe máy đổ xăng vào là chạy, rượu vào là sức khoẻ của lão bổng từ đâu ngùn ngụt kéo tới. Vì thế mà lão làm rất khoẻ, làm trúc mồ trúc mả, làm quên trời quên đất mà chẳng hề biết mệt là gì. Lão làm gấp đôi gấp ba người thường, nhưng tiền kiếm được cũng chỉ đổ vào rượu hết.

Không chỉ uống rượu khoẻ, lão Lê còn nổi tiếng với tinh thần nghĩa hiệp, cứu khổ phò nguy.

Một lần, trong làng có một con trâu điên lồng lên phá phách và húc bị thương nhiều người. Con trâu mộng lực lưỡng, cái cổ to như cổ cối xay, hai cái sừng vòng cung nhọn hoắt húc đổ tất cả mọi thứ. Nó phi nhanh như một cơn lốc, những người không kịp tránh bị nó húc nằm bị thương la liệt. Máu chảy khắp nơi, cảnh tượng thật là tang thương. 

Dù vô cùng sợ hãi, nhưng người ta không biết làm cách nào để mà khống chế được con trâu đang trong cơn nổi điên cho được. Thế rồi trong cơn nguy cấp, một người chợt nghĩ ra, bèn hét lên:

- Tìm lão Lê. Mau lên!...

Mọi người sực nhớ ra, bèn chạy đi tìm lão Lê. 

Lúc này lão Lê vừa mới uống rượu xong, trong người đang nóng phừng phừng. Nghe mọi người báo tin, lão liền cởi phăng chiếc áo đang mặc, phăm phăm chạy ra đón đầu con trâu.

Hai mắt con trâu đỏ ngầu, thấy có đối thủ chắn đường, nó điên tiết lao thẳng vào như một cơn lốc. Bụi bay mù mịt, mọi người sợ hãi kêu ré lên bưng mặt.

Nhưng lão Lê vẫn đứng im như pho tượng, ngay khi con trâu vừa lao vào, lão liền nhanh tay chụp lấy hai cái sừng nhọn hoắt của nó, ghì chặt xuống đất. Con trâu điên khựng lại như bị va vào một bức tường sắt, nó cong người lại, hai chân sau cào vào mặt đường khiến cho bụi đỏ tung mù lên.

Nhưng khi đám bụi vừa tan, người ta che mắt nhìn kĩ thì thấy con trâu đã bị vật nằm xuống đất, hai sừng vẫn bị lão Lê nắm chặt. Người ta hò reo như vỡ trận, rồi cùng ùa cả vào mà dùng dây thừng trói con trâu lại. Còn lão Lê thì đương nhiên rồi, lão được người ta công kênh, được người ta tung hô như là một anh hùng cứu nhân độ thế.

Ngày trước, trong vùng có một người đô vật vạm vỡ tên là Vương Cơ. Phải, chỉ có Vương Cơ mới đủ sức ngồi tiếp rượu với lão Lê. Hai người họ thường xuyên uống rượu với nhau, coi nhau như tri kỉ.

Thế rồi trong một lần say rượu, Vương Cơ chẳng may sẩy chân ngã xuống sông chết đuối. Kể từ đấy, lão Lê chỉ uống rượu một mình. Chẳng hiểu là do lão không thèm uống với người ta, hay vì không ai có thể uống lại với lão nữa.

Ở góc phòng, chiếc quạt cây vẫn không ngừng quay tít và đảo đi đảo lại liên hồi. Người ta quên ăn, quên uống, quên luôn cả cái nóng bức của mùa hè để mà lắng nghe câu chuyện về tửu thần. Gã chủ quán đã ngừng kể, câu chuyện kết thúc, và ngoài kia, phố cũng đã lên đèn.

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2024

Cổ Vật

          

     Anh Thắm vốn là sinh viên kiến trúc Hà Nội và cũng là anh em con cô con cậu với Sơn.

Để có tiền trang trãi thêm cho việc học, anh thường buôn hàng hoá từ thành phố về quê. Anh buôn đủ thứ, từ bao diêm, kim chỉ, đèn pin, cho đến cả mớ dây chun dài loằng ngoằng nữa. Những thứ đó anh mua về, rồi nhập sỉ cho các bà, các cô bán hàng xén ở chợ.

Sơn cũng đã từng được chứng kiến nhiều người sinh viên như thế. Nghỉ tết, họ thường tranh thủ mang về quê đủ thứ hàng hoá và cả pháo nổ, pháo hoa để bán ở những phiên chợ tết.

Anh Thắm có vóc dáng cao lớn, mắt sáng, miệng rộng, đặc biệt là anh rất vui tính. Sơn chưa từng thấy anh than khó, than phiền bao giờ cả; ngược lại, anh còn hay bông đùa để cho không khí lúc nào cũng trở nên vui vẻ, lạc quan hơn.

Ngoài buôn bán, anh Thắm còn chọn cho mình một công việc đòi hỏi vốn kiến thức lịch sử phong phú, ấy là buôn đồ cổ. Dĩ nhiên đồ cổ mà anh nhắm tới cũng chỉ thuộc loại rẻ tiền, phù hợp với khả năng tài chính của sinh viên. Đôi khi cũng vớ phải món bở, vì chủ nhân không biết giá trị của đồ vật, bán như cho. Những khi ấy, anh có món lãi lớn, có thể an tâm ăn học mấy tháng liền mà không cần đến tiền trợ cấp của gia đình nữa.

Anh Thắm rất giỏi, chỉ cần thoáng qua là anh biết được ngay xuất xứ, niên đại, chủng loại của cổ vật. Nhìn hoa văn và hình vẽ trên đó, anh cũng đọc được ngay đó là điển tích, điển cố gì.

Đối tượng mà anh nhắm tới là những gia đình địa chủ, hào môn xưa. Đơn giản, vì chỉ những gia đình như vậy thì mới có cổ vật ở trong nhà.

Năm 1986, mùa hè rất nóng và khô hanh. Mặt trời như một lò lửa khổng lồ, rọi xuống mặt đất những tia nắng vàng rộm và chói chang như thiêu đốt. Đến con chó giữ nhà cũng phải tìm những nơi bóng mát, nằm thè lưỡi mà thở dốc, hai con mắt thì cứ mở to thao láo đầy vẻ kinh hãi. Cây Cam, cây Bưởi trong vườn ban ngày cành lá héo rũ, phải đợi đến đêm mới có chút hơi sương để lấy lại chút sinh khí tốt tươi. Trên những thửa ruộng còn trơ lại gốc rạ, mặt đất nứt nẻ, khô rang. Dòng sông cũng cạn gần tới đáy, trơ ra những thứ rác rưởi và đám rong rêu xanh rì. Mãi gần đến mùa thu thì trời mới bắt đầu dịu hơn một chút. Những cơn gió nồm mang theo hơi nước từ biển mát rượi, thổi lật tung những cánh cửa sổ và mơn man khắp da thịt người. Rồi những cơn giông cũng ập đến, dòng sông lại đầy, lại toả ra làn không khí mát dịu mỗi lúc chiều buông.

Cũng dịp này, anh Thắm từ Hà Nội về nhà Sơn chơi.

Trong bữa cơm hôm ấy, anh hỏi:

- Vùng mình, có nhà nào có cổ vật bán không mợ nhỉ?

Mẹ Sơn ngơ ngác, không hiểu:

- Cổ vật là những gì?

- À!…Bình gốm, tranh khảm, ấm chén, đĩa…cổ đó mợ - Anh Thắm nhíu mày, cố tìm cách để diễn đạt cho phù hợp.

Bố Sơn ngừng đũa, nhìn vợ:

- Thì…là đồ cổ đấy! Là những đồ vật lâu năm có giá trị. Giống như các mẫu vật mà người ta vẫn hay trưng bày trong viện bảo tàng ấy…

- Vâng!...Vâng! Đúng như vậy đấy ạ! – Anh Thắm vui vẻ tán thành, nét mặt tươi tỉnh hẳn lên.

Đến đây thì mẹ Sơn đã hiểu phần nào. Bà lặng im ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói:

- Cái này thì mợ không rành lắm. Nhưng dưới làng Cổ Am có nhà thầy Dương. Sơ đời ông nội thầy ấy là địa chủ, giàu có nức tiếng cả làng cả tổng cơ đấy. Cháu thử đến đó hỏi xem sao?...

Sơn ngừng môi chan canh, nhanh nhảu:

- Em cũng biết nhà thầy Dương. Nhà thầy ấy ở ngay dưới kia!...

- Vậy thì chiều nay em dẫn anh tới đó nhé! – Anh Thắm nhẹ nhàng xoa đầu Sơn, nói.

Chiếc xe đạp của hai anh em chạy lóc cóc trên con đường làng sỏi đá nhấp nhô. Anh Thắm vẫn đạp xe đều đều, thi thoảng lại cất tiếng hỏi:

- Gần đến chưa?

Sơn ngồi sau gác ba ga, líu lo:

- Chưa! Anh cứ đi tiếp đi!...

Một lúc sau thì ngôi làng thầy Dương đã hiện ra trước mắt. Ngôi làng nằm giữa cánh đồng, xung quanh cây cối rậm rì. Thấp thoáng những mái ngói nhô lên, nom giống như bức tranh làng quê mà Sơn vẫn thường thấy trong các sách giáo khoa mà cậu đã học.

Đi qua một cây cầu đá nhỏ thì vào đến trong làng.

Đến cổng nhà thầy Dương, hai anh em xuống xe rồi dắt bộ vào trong sân. Đó là một ngôi nhà ngói ba gian hai chái khá bề thế. Đằng trước có những cánh cửa bằng lim với các hình chạm khắc và con tiện chạy dài.

Chủ nhà đang lúi húi nhổ cỏ bên mấy luống rau ngoài vườn. Thấy nhà có khách, ông liền ngừng tay và chậm rãi đi vào. Đến chỗ cái lu sành đặt dưới gốc cây ổi, ông dừng lại, múc nước rửa tay, dẫm lạch bạch cho đất rơi ra rồi mới bước vào trong sân.

- Chào thầy ạ! – Anh Thắm và Sơn cất tiếng, gần như đồng thanh.

Chủ nhà hấp háy con mắt nhìn họ, ngỡ ngàng:

- Anh đây là?...- Thầy Dương toan hỏi thêm, nhưng khi nhìn thấy Sơn, thầy nghĩ anh Thắm là chỗ quen biết với gia đình Sơn nên lại thôi. Ông chỉ giơ bàn tay lên, thấp giọng – Mời anh và cháu vào chơi!...

Họ bước qua cái bậu cửa cao bằng gỗ để vào trong nhà.

- Anh và cháu ngồi đi! - Chủ nhà vừa cài cúc áo sơ mi, vừa nói.

Hai anh em lịch sự ngồi xuống bộ trường kỉ nhẵn bóng được kê ngay giữa phòng khách.

Anh Thắm giới thiệu xong thì bắt đầu hỏi thăm gia cảnh chủ nhà. Không khí vui vẻ, thân tình lắm.

Trong lúc nói chuyện. anh để ý thấy có mấy cái bình gốm, lư hương và đĩa cổ trưng trên cái tủ chè gần đó thì đã mừng thầm. Trên tường lại treo những bức tranh khảm trai rất tinh xảo, có tuổi đời ít nhất cũng phải đến cả trăm năm. Với những điển tích như “Văn Vương cầu hiền – Lã Vọng câu cá”, “Bát tiên vượt biển”, rồi cả bộ tứ bình cổ nữa. Đúng như những gì mà anh đã kỳ vọng và mong đợi.

Làm như vô tình, anh chỉ tay về phía cái tủ chè, hỏi:

- Mấy cái đồ sành sứ kia, thầy có bán không?

Dù cảm thấy thú vị với lời đề nghị đó, nhưng chủ nhà chỉ lắc đầu, đáp:

- Những thứ ấy là do tổ tiên để lại. Tuy đã nhiều phen khốn khó, nhưng tôi cũng không có ý định bán chúng bao giờ. Vả lại, xưa nay cũng chưa thấy ai hỏi đến chuyện này cả.

Anh Thắm nhắp một ngụm chè xanh, nói:

- Những thứ này, nếu bỏ mấy chục ra chợ mua thì cũng được một mớ. Chỉ vì đồ gốm ngày xưa người ta nung đốt cẩn thận, cho nên mới thấy quý đó thôi!...

Như một thuyết khách lão luyện, anh Thắm chỉ đông nói tây, thao thao bất tuyệt thêm một chặp nữa. Chủ nhà ngồi nghe, gật gù, tay vân vê mãi cụm lông nốt ruồi dưới cằm, có vẻ như đã xuôi tai.

- Hay là thế này! Thầy cho tôi xem qua một tẹo, rồi sẽ quyết định sau có được không?...- Anh Thắm nhìn chủ nhà, nói.

Thầy Dương vui vẻ:

- Được! Được!...Mời anh cứ xem!...

Anh Thắm liền đứng lên, đi đến cái tủ chè kê ở gian giữa. Tại đây, anh lựa được một cái bình gốm men lam có niên đại từ thời nhà Thanh, một cái nậm rượu và hai đĩa cổ nữa. Chỉ tiếc là nậm rượu thì sứt một quai, còn một cái đĩa nữa cũng bị mẻ mất một bên mép. Anh mang tất cả những thứ đó trở lại bàn và bắt đầu ngồi đánh giá chúng một cách kỹ lưỡng. Cái nào cũng rất đẹp, cũng ánh lên nước men và những hoa văn tinh xảo, cầu kỳ.

Anh Thắm lấy đầu ngón tay, búng nhẹ vào cái bình và nghiêng tai để nghe những âm thanh “Boong…boong…” phát ra từ đấy. Cặp ria mép rung rinh, động đậy, anh gật gù, như đang nói với chính mình:

- Cũng được! Họ làm cũng không đến nổi xuề xoà, cẩu thả cho lắm…

Vài phút sau, với một thái độ dứt khoát, anh ngẩng lên, nói với chủ nhà:

- Những món đồ này tôi thấy hợp nhãn lắm. Tôi sẽ trả thầy tám trăm nhé!...

Đôi mắt thầy Dương bất giác ánh lên một niềm vui khó tả. Ông không nghĩ những món đồ của mình lại được người ta trả giá cao đến thế. Thầy ngồi thẳng người lên, ngần ngừ. Những nếp nhăn ngoằn ngoèo trên trán hằn lại, sâu hoắm. Có vẻ như ông đang suy nghĩ và tính toán rất lung.

Thấy mức tiền mà đối phương đưa ra cũng bằng cả tháng lương giáo viên của mình, thầy đã có ý ưng. Dù mặt thộn ra đầy vẻ tiếc nuối, nhưng rồi thầy tặc lưỡi:

- Thôi được! Tôi đồng ý bán cho anh!...

Dù sao thì đối với thầy, chừng ấy tiền cũng giúp cho gia đình thêm vào để chi tiêu trong lúc khó khăn, túng thiếu này. Vả lại, để những thứ đó trong nhà cũng chẳng ích chi, hằng ngày lại còn phải mất công lau chùi bụi bặm nữa.

Dù mừng rỡ, nhưng anh Thắm vẫn làm ra vẻ lạnh lùng, không để cho cảm xúc bộc lộ ra nét mặt. Sau khi đã cho mấy món đồ kia vào cái túi vải mang theo, anh ngước nhìn mấy bức tranh khảm trai treo trên tường:

- Còn những thứ này thì sao?

Chủ nhà vội xua tay:

- Không!...Không!...Mấy bức tranh này thì tôi để treo cho đẹp. Không bán đâu!

- Vâng!...Vâng! Là tôi chỉ hỏi vậy thôi! – Anh Thắm cười.

Khách thanh toán tiền, rồi bắt tay chủ nhà:

- Tạm biệt thầy!

- Chào anh! – Thầy Dương cũng vui vẻ bắt tay và nồng nhiệt vỗ vỗ vào vai người khách trẻ.

o0o

Để đền đáp việc Sơn đã giúp mình mua được một món hời, anh Thắm quyết định thưởng cho cậu một chuyến đi Hà Nội chơi.

Ngay chiều hôm ấy, anh nói với mẹ Sơn:

- Bây giờ đang nghỉ hè. Mợ cho em Sơn đi Hà Nội chơi với cháu một chuyến nhé!?

Bà mẹ do dự:

- Nhưng đã gần hết hè. Em Sơn cũng sắp phải đi học rồi...

Anh Thắm vỗ vào vai Sơn đang đứng tò mò bên cạnh, nói:

- Mợ cứ yên tâm! Chỉ ra chơi ít ngày, rồi cháu lại đưa em về ngay thôi!

Được mẹ đồng ý, Sơn vui lắm. Với một đứa trẻ mới học lớp năm, lần đầu tiên được đi Hà Nội chơi, dĩ nhiên là cậu rất háo hức và thấp thỏm.

o0o

Ngồi trên ô tô, Sơn hướng mắt ra phía cửa xe, mãi mê ngắm nhìn khung cảnh hai bên đường quốc lộ. Ngoài kia, những xe cộ, nhà cửa cứ vùn vụt lướt qua mắt cậu như trong một cuốn phim. Dãy Trường Sơn xa mờ, in hình sống trâu nổi bật lên nền trời, nối tiếp nhau tưởng chừng không bao giờ dứt.

Trên đường đi, anh Thắm bảo quản cái túi đựng đồ cổ như báu vật. Anh sợ người ta vô tình đụng phải sẽ khiến cho chúng bị sứt mẻ. Mà nói đúng ra thì còn hơn cả báu vật ấy chứ, đồ cổ kia mà.

Trong lúc ngủ gà ngủ gật, thi thoảng anh lại giật mình thảng thốt. Sau khi ngơ ngác nhìn trước ngó sau, thấy không ai đụng đến cái bình của mình, anh thở phào, rồi lại nhẹ nhàng đặt tay lên nó, như thể người ta đang vỗ về, ôm ấp một đứa trẻ vậy.

Mãi đến gần 2 giờ chiều thì xe mới ra đến Hà Nội. Hai anh em thuê xe xích lô để đi về nhà. Người xích lô nhiệt tình nhảy xuống, định xách cái túi vải đặt lên xe, nhưng anh Thắm đã hốt hoảng ngăn lại:

- Ấy! Cẩn thận, kẻo vỡ!...

Rồi trước sự ngơ ngác của người xích lô, anh nhanh tay giằng lấy cái túi, cẩn thận để nó ra đằng trước, ngay dưới chân mình. Anh ngồi lên ghế, vòng tay đỡ lấy cái bình, ngăn không cho chạm vào thành xe. Trong suốt hành trình, anh cứ giữ nguyên một tư thế như vậy, không lúc nào rời.

Nhìn thái độ kỳ quặc ấy của anh, người xích lô không khỏi tò mò. Anh ta nhếch mép cười, hàng ria cong cong vểnh lên như chế nhạo:

- Cái gì trong túi mà ông anh “Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” thế?

Anh Thắm tặc lưỡi, đáp cho qua chuyện:

- À! Đồ dễ vỡ ấy mà…

Người xích lô nghe thế thì cũng không còn thắc mắc gì thêm nữa, chỉ tập trung vào việc lái xe. Ông cầm cái càng, vặn bên này, ngoặt bên nọ, cố vượt lên một đám tắc đường đông nghịt ở ngay chỗ ngã tư đường.

Đường phố rất đông người và xe. Ô tô, xe máy, xích lô như mắc cửi, mà nhiều nhất là xe đạp. Người xích lô vẫn rướn người trên bàn đạp, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Chiếc mũ lưỡi trai đội sùm sụp trên đầu ông lệch hẳn đi, gần như che kín một bên mắt. Từng giọt mồ hôi trên đầu sống mũi ông chảy xuống, nhỏ tong tong xuống nền đường. ­

Xích lô rẽ vào một  con đường vắng và ít người hơn. Xe lần lượt đi qua một ngôi chùa, rồi một cái hồ lớn trồng toàn cây liễu xanh tốt. Xích lô đỗ lại trước một dãy nhà tập thể, anh Thắm thanh toán tiền, rồi hai anh em dắt nhau đi lên.

- Đến nơi rồi! – Anh Thắm dừng lại trước một căn phòng ở tầng ba và giơ tay bấm chuông.

Cửa mở, khuôn mặt tò mò của anh Tình hiện ra. Vừa nhìn thấy Sơn đứng lấp ló sau lưng em trai mình, anh cất giọng như reo:

- A! Sơn ra chơi hả? Cậu mợ ở quê khoẻ không em?

- Dạ khoẻ! – Sơn bẽn lẽn đáp.

Ngồi uống nước và nghỉ ngơi một lúc, anh Thắm lấy chiếc bình ra để chuẩn bị mang đi cất.

Thấy cái bình đẹp, đứa cháu trai chừng dăm tuổi trố mắt lên vì tò mò. Nó mon men đến gần, đòi:

- Chú Thắm cho cháu chơi cái kia!

Sợ cháu nghịch, anh trừng mắt lên, doạ:

- Không được! Cái này cấm cháu động vào. Nghe chửa!...

Đứa bé ngồi phịch xuống nền nhà, mếu máo:

- Chú phải cho cháu chơi cơ!...

Anh Tình mang khẩu súng nhựa ra, phỉnh con:

- Súng đây! Con mang ra bắn máy bay nhé!...

Đứa bé cầm súng chỉa lên trần nhà, đứng dạng chân, nheo mắt:

- Chéo…chéo….- Nó nhại theo tiếng súng một cách phấn khích. Phút chốc đã quên hẳn chiếc bình cổ của chú Thắm.

Cái bình này kị nhất là trẻ con hiếu động. Anh Thắm quan sát một lúc, rồi quyết định đặt nó lên nóc giá sách, sau khi đã chắc chắn là ngoài tầm với của đứa cháu trai nghịch ngợm.

o0o

Sáng hôm sau, anh Thắm đèo Sơn đến nhà một người bạn hoạ sĩ chơi. Anh mang cái nậm rượu và hai cái đĩa theo, còn chiếc bình thì vẫn để ở nhà.

Đón họ là một thanh niên dong dỏng, tóc để dài và râu ria xồm xoàm.

Ngay khi vừa gặp nhau, họ đã bận rộn và mãi mê với mấy món đồ cổ mà anh Thắm mang đến. Họ ngồi xoài ra giữa nền nhà bừa bộn những giá vẽ và hộp màu, cùng giơ cái đĩa cổ ra trước ngọn đèn mà ngắm nghía. Theo như anh Thắm giải thích, đó là cách để họ quan sát và đánh giá độ bóng, mịn của nước men.

Anh hoạ sĩ lấy ra một cuốn sách dày, trong đó chụp rất nhiều những hình mẫu có đánh ký hiệu. Dưới mỗi tấm hình lại có ghi chú tên gọi, niên đại, chủng loại cổ vật. Hai người cúi đầu, chăm chú lật từng trang sách để so sánh, đối chiếu. Giống như khi làm bất cứ công việc hệ trọng nào khác, khuôn mặt của họ lúc này cũng hết sức nghiêm túc và tập trung.

Lát sau, hoạ sĩ chỉ tay vào một bức hình, nói:

- Đây rồi! Giống i sì phoóc nhé!...

Anh Thắm nheo mắt nhìn kỹ, rồi gật gù:

- Đúng rồi! Nhưng…có thể phục chế nguyên trạng được không?...

Anh hoạ sĩ gập cuốn sách lại:

- Yên tâm đi! Đảm bảo sẽ không khác gì nguyên mẫu!...

Anh Thắm để mấy đồ vật lại cho anh bạn hoạ sĩ rồi về. Trước khi bước ra cửa, anh chần chừ một lúc, rồi gãi đầu gãi tai:

- Dù sao thì cổ vật vẫn chưa bán được. Cậu ứng trước cho mình một ít để tiêu tạm, nhé!...

Chủ nhà ngớ người ra vài giây, rồi anh ta nhăn nhó, móc ví đếm mấy tờ tiền đưa cho anh Thắm.

Hai anh em lại hào hứng đạp xe về nhà. Thực ra trong lòng anh Thắm đã có tính toán cả rồi. Anh dự định là sẽ bán cái bình ở nhà cho một mối khác lớn hơn. Nếu được giá, lần này anh sẽ trúng mánh lớn, có khi cả năm không phải lo đến tiền ăn học ấy chứ.

o0o

Chú Thắm đi khỏi, bố mẹ cũng đã đi làm, giờ này chỉ còn mỗi mình đứa bé ở nhà. Chơi một lúc đã chán, nó vứt đồ chơi ra khắp nhà rồi bắt đầu tò mò nhìn lên cái bình của chú Thắm để trên nóc tủ. Cái bình cao lừng lững, hoa văn sặc sỡ, khơi gợi trí óc khám phá của trẻ con. Nó lẫm chẫm tiến đến chỗ chiếc bình, nhón chân, cố với tay lên nhưng không tới nơi. Loay hoay mất vài phút, chợt trong đầu của nó nẩy ra một ý hay. Nó thò tay kéo cái ghế đẩu ra khỏi gậm bàn và bắt đầu leo lên. Lần này thì được rồi, nó đã chạm được tay tới chiếc bình mơ ước. Nhưng cái bình to và nặng, còn cánh tay nó thì nhỏ và yếu ớt, làm sao mà nâng được bây giờ. Thế rồi chừng chút một, nó kiên nhẫn dùng bàn tay nhỏ xíu để xô đẩy, chiếc bình cứ thế nhích dần, nhích dần ra phía mép tủ.

Rồi một tiếng “Choang…” rất lớn vang lên. Chiếc bình rơi xuống nền nhà vỡ tan. Đứa bé cũng giật nảy mình, mặt mày tái xanh tái xám. Hoảng hồn, nó ngồi bệt xuống ghế, sợ hãi khóc ré lên. Nhìn những mãnh vỡ vương vãi khắp nền nhà, nó càng kinh hãi hơn. Sợ bị người lớn đánh mắng, nó chạy đến chỗ chiếc đi văng, leo lên đó ngồi khóc. Một lúc, vừa mệt vừa sợ, nó nằm xuống và ngủ thiếp đi.

o0o

Về đến khu tập thể, anh Thắm nhảy hai bước một lên cầu thang, lòng những rộn ràng háo hức. Sơn đi ngay phía sau, mệt đến muốn đứt hơi mà vẫn không tài nào theo kịp. Trong lúc tra chìa khoá vào ổ, anh Thắm vừa nhún nhẩy vừa huýt sáo vang lừng.

Ngay khi cánh cửa vừa mở, anh Thắm bất ngờ đến mức nhảy dựng cả người lên. Trước mắt anh là những mảnh gốm văng tung toé khắp nơi. Mắt trố lên vì kinh ngạc, anh vội nhìn lên nóc tủ. Cái gì thế này? Chiếc bình đã không còn ở trên đó nữa. Rồi ánh mắt anh lại hướng về phía chiếc đi văng, nơi đứa cháu trai đang nằm trên đó ngủ ngon lành. Không còn nghi ngờ gì nữa. Đích thị thủ phạm là đây rồi.

Trong cơn bấn loạn, anh ngồi thụp xuống, nhặt một mảnh vỡ của chiếc bình, rồi kêu lên trong thảng thốt:

- Ôi! Chiếc bình quý của tôi. Báu vật của tôi! Sao lại nên cơ sự này?...Trời hỡi trời?!...