- Tôi mặc kệ ông làm sao đó thì làm! Ngôi nhà đã quá sập sệ cần
phải sửa chữa lại rồi. Bữa trước thằng cả lại mới mất việc, mấy đứa cháu nội
cũng thiếu cả tiền đóng học phí nữa. Cả nhà phải điêu đứng khổ sở thế này, cũng
tại cái nghề họa sĩ chết tiệt của ông cả đấy! Suốt ngày chỉ chúi mũi vào vẽ và
vẽ thôi. Quỷ tha ma bắt ông đi! – Đó là những lời chì chiết mà hằng ngày ông
phải nghe từ miệng bà vợ lắm lời. Những lúc ấy, ông chẳng còn biết làm gì khác
ngoài việc bịt mắt bưng tai để chờ cho cơn thịnh nộ của vợ qua đi. Cũng may là
tuy sồn sồn như vậy, nhưng được cái bà cũng là một người phụ nữ biết cảm thông
và hiểu chuyện.
Mấy chục năm trong nghề, tuy là không mang lại cho họa sĩ Âu
Dương danh tiếng và tiền bạc, nhưng cũng đã khiến cho ông hiểu được tâm lý và
thị hiếu của khách hàng. Ông nhận ra rằng: Đa phần những người yêu thích và am
hiểu hội họa thì thường không có tiền để mua tranh. Trong khi những người sẵn
sàng chi ra một món tiền rất lớn để có được những bức tranh chẳng có mấy giá
trị nghệ thuật thì lại không hiểu gì về hội họa cả. Họ là những đại gia, ông
chủ, hoặc là những người có địa vị cao trong xã hội. Họ mua tranh vì hiếu kỳ,
để đánh bóng tên tuổi và để chứng tỏ mình cũng là một người trí thức sành điệu.
Suốt cả tuần nay người ta chẳng thấy họa sĩ Âu Dương đi đâu cả,
hầu như ngày nào ông cũng đóng cửa và ngồi lỳ ở trong phòng một mình. Trên chiếc
ghế bành bọc da quen thuộc, trước mặt là bao thuốc lá và ly cà phê đen, cứ thế
ông ngồi ở đó mà trầm ngâm hằng giờ. Ông lặng lẽ hút thuốc, nhâm nhi cái vị
đắng khổ hạnh của thứ nước uống đen đen, đặc sánh ấy và bóp trán suy nghĩ rất
lung. Điều mà ông đang nghĩ đến chính là những ý tưởng nghệ thuật cứ dần hình
thành trong đầu như một dòng chảy không ngừng. Những khi dòng chảy ấy bị đứt
đoạn, ông lại đứng dậy, bần thần chắp hai tay ra sau lưng mà đi lại trong phòng
như một cái bóng. Bằng sự tập trung cao độ, họa sĩ đang cố gắng tìm kiếm cho
mình một ý tưởng sáng tạo mới, và ông tự nhủ rằng đó nhất định phải là một
khuynh hướng thật mới mẻ, một con đường mà chưa ai từng bước đi. Rồi vì
gắng sức và suy nghĩ quá độ mà chỉ qua mấy ngày râu tóc ông đã bạc phơ, thân
hình trở nên tiều tụy như sau một cơn bạo bệnh. Sau khoảng thời gian thai nghén
nhọc nhằn, rốt cục thì đứa con nghệ thuật được chờ đón nhất của ông cũng đã ra
đời. Đến ngày thứ bảy, ông đã đưa ra một quyết định hệ trọng, tự mình sáng lập
ra một trường phái hội họa với tên gọi mới: “Hư Vô”.
Cũng giống như tên gọi, tranh của trường phái “Hư vô” sẽ không
có một hình vẽ nào trên đó hết, tất cả chỉ là một tấm vải màu duy nhất, không
hơn không kém. Tấm vải đó có thể là màu đen, màu xanh hoặc màu vàng…, và dĩ
nhiên, bên ngoài cũng phải được lồng khung cẩn thận.Vì nếu như không có khung,
tấm vải cũng chỉ là một tấm vải bình thường, không thể nào gọi là tranh được.
Sau đây là chân dung tự họa của người sáng lập ra trường phái
hội họa “Hư Vô”: Thân hình cao và mảnh dẻ. Trên khuôn mặt trắng trẻo và thư
sinh ấy, chòm râu dài lưa thưa đã nhuốm màu phong sương, cho thấy một tâm hồn
khoáng đạt và đầy nghệ sĩ tính. Đôi mắt hiền từ nhưng có ánh nhìn sắc sảo và
tinh anh. Đặc biệt là khuôn miệng rộng, giọng nói trầm ấm như chuông đồng. Mỗi
khi xuất hiện ở đâu đó, họa sĩ thường diện một bộ đồ lụa màu mỡ gà với cái mũ
bê rê đội lệch trên đầu. Mùa hè ngài đi dép nhựa đơn sơ, mùa đông thì cũng chỉ
đi một đôi dày vải có đế được làm bằng nhựa cao su. Với những bước đi nhẹ nhàng,
khoan thai, phong thái của ngài luôn toát lên cái vẻ tiên phong đạo cốt của một
bậc chân nhân thoát tục.
o0o
Để bắt tay vào việc, họa sĩ Âu Dương mượn được một căn nhà xưởng
mà người ta bỏ hoang để làm nơi giới thiệu sản phẩm. Cùng với mấy đồng nghiệp nữa,
họ sơn mới các bức tường, dọn dẹp và trang trí lại như một phòng tranh thực
thụ. Nhà xưởng rộng tạo thành một không gian khá mở, vì vậy mà tha hồ cho các
hoạ sĩ thể hiện những ý tưởng nghệ thuật phong phú của mình. Những bức tranh
trưng bày như đã nói, chỉ có khung viền bên ngoài, còn bên trong thì được lồng
những tấm vải lụa đủ màu sắc sặc sỡ.
Hôm phòng tranh “Hư Vô” khai trương, tiết trời mùa xuân ấm áp,
nắng vàng rực rỡ khắp nơi. Nhiều bạn hữu, nhà báo, quan khách và cả những người
hiếu kỳ khác cũng đã có mặt. Mặc dù chưa biết Âu Dương là ai, nhưng họ đến đây
vì tin tưởng vào sự hiện diện của những họa sĩ tên tuổi nước nhà, phần nữa cũng
vì bản tính tò mò khó cưỡng lại.
Người ta vui vẻ bàn tán, rồi cùng háo hức rủ nhau đi xem khắp
một lượt phòng tranh. Nhưng đến khi xem xong, tất cả đều lắc đầu ngán ngẩm vì
chẳng ai hiểu được gì cả. Một số người tưởng mình nhìn nhầm, nghĩ là sẽ có
những ẩn ý hay nét vẻ mờ ảo nào đó trên bức tranh để đánh lừa thị giác chăng,
bèn dụi mắt nhìn lại cho thật kỹ. Nhưng rồi dù đã nhìn đi nhìn lại ở dưới mọi
góc độ, rốt cục bức tranh cũng chẳng có hình thù gì khác ngoài nhưng tinh thể
màu sâu thăm thẳm. Rồi người ta bực mình, người ta văng tục. Nhiều người nỏng
nảy, còn chửi họa sĩ Âu Dương là kẻ háo danh lừa đảo. Nhưng họa sĩ thì vẫn điềm
nhiên như không. Ở góc phòng đầu kia, trong bộ đồ vải lụa giản dị và lịch
thiệp, đầu đội mũ bê rê, ngài vẫn đang tươi cười, chậm rãi giới thiệu tranh của
mình cho những khách tham quan.
Không khí trong phòng tranh lúc này thật ồn ào, náo nhiệt. Người
đứng vòng trong vòng ngoài, chen lấn đến bở cả hơi tai. Một phóng viên len được
đến trước mặt họa sĩ Âu Dương - chủ nhân của phòng tranh hôm nay. Tấm áo vét
màu xám có gắn thẻ phóng viên trên người anh ta trễ hẳn xuống, cả cái cổ áo sơ
mi cũng xộc xệch vì bị chen lấn, xô đẩy. Người phóng viên lúng túng sửa lại cặp
kính cận to bản đang đeo trên khuôn mặt linh lợi và tự giới thiệu về bản thân.
Rồi sau khi đã lịch sự xin phép được phỏng vấn, anh ta chìa cái máy ghi âm nhỏ
bằng bàn tay ra trước mặt họa sĩ Âu Dương, bắt đầu câu hỏi của mình:
- Thưa họa sĩ! Xin ngài hãy tuyên bố lý do của cuộc triển lãm
hôm nay?
Dù đã quen với phong thái điềm đạm, nhưng bữa nay họa sĩ Âu
Dương cũng không tránh khỏi những sự căng thẳng, hồi hộp. Vì chính cái giây
phút này đây, nó sẽ quyết định một bước ngoặt hết sức quan trọng trong sự
nghiệp sáng tác của ông. Ông trịnh trọng đưa tay lên sửa lại cổ áo, đằng hắng
một tiếng rất vang rồi hướng ánh mắt về phía phóng viên, cất giọng hào hứng:
- Kính thưa quý vị! Là một người hoạt động trong lĩnh vực hội
họa đã mấy chục năm nay. Những lối mòn nghệ thuật lúc này đã không còn đủ sức
hấp dẫn tôi được nữa, vì vậy mà tôi quyết định sẽ tự tìm ra cho mình một lối đi
riêng. Và đó cũng chính là lý do mà tôi lập ra trường phái hội họa “Hư Vô” như
quý vị đã thấy ngày hôm nay!
- Đồng ý với ông! Nhưng có vẻ như chẳng có bức tranh nào, ngoài
những cái khung rất đẹp và những tấm vải lụa màu. Có thể nói đây là một cuộc
triển lãm khung ảnh thì đúng hơn? – Phóng viên hỏi tiếp, sau khi đã nháy mắt và
mỉm cười đầy ẩn ý với những người đứng xung quanh.
Họa sĩ Âu Dương vẫn tỏ ra điềm tĩnh:
- Tranh của trường phái “Hư Vô” chỉ dành cho những người có
thiên khiếu nghệ thuật và có óc tưởng tượng phong phú. Đối tượng phục vụ của nó
là những người có văn hóa cao, có khả năng cảm thụ nghệ thuật tốt. Trên bức
tranh không hề có nét vẽ nào cả, khi xem, người ta sẽ tự hình dung ra những
hình ảnh và sắc thái trong đó. Tóm lại là họ sẽ phải dùng ý niệm để cảm nhận
nội dung bức tranh!...
Tiếng vỗ tay và tiếng xì xầm rộ lên.
Người phóng viên tươi cười, kiên nhẫn chờ cho tiếng ồn ào lắng
xuống, rồi tiếp tục hỏi:
- Vậy tuyên ngôn của trường phái “Hư Vô” là gì? Thưa ông!
- Tuyên ngôn của trường phái hư vô là ba “Không”. Đó là: “Không biết
gì”, “Không thấy gì” và “Không hiểu gì”. Chỉ những người đạt đến cảnh giới cao
trong nghệ thuật thì mới biến được những từ “Không” kia trở thành “Có”. Khi ấy
họ sẽ thấy nó đẹp và lộng lẫy vô cùng. Họ sẽ rơi vào một trạng thái mê ly, ngất
ngây mà những người tầm thường khác chẳng thể nào có được!...
- Vậy ông có thể nói cho mọi người biết nội dung bức tranh này
là gì không? – Phóng viên chỉ vào bức tranh treo ngay trên đầu mình, rồi hướng
ánh mắt ranh mãnh về phía họa sĩ Âu Dương, lớn tiếng hỏi. Rõ ràng là anh ta
đang cố tình dồn người được phỏng vấn vào một tình thế khó chống đỡ.
Nhưng xem ra họa sĩ Âu Dương chẳng có vẻ gì là khó xử cả. Sau
câu hỏi của phóng viên, ông chậm rãi quay người về phía bức tranh, đầu hơi cúi
xuống và bắt đầu nhắm nghiền hai con mắt lại giống như một nhà sư đang nhập thiền.
Chừng vài giây sau, ông mở bừng mắt ra, cất giọng giải thích:
- Bức tranh này miêu tả phong cảnh một làng quê trù phú. Ở đó có
những mái nhà lấp ló sau rặng tre xanh, xa xa là đồng lúa chín vàng, và cả
những cánh diều đang bay lơ lửng trên không trung!…
- Ồ! Thì ra vậy! – Anh phóng viên không kìm được nữa, kinh ngạc
thốt lên.
Nói rồi anh ta cũng bắt chước họa sĩ, quay người về phía bức
tranh, rồi nhắm nghiền hai con mắt lại vài giây như để nhập thiền.
- Tôi cũng nhìn thấy như vậy! Chúc cho trường phái “Hư vô” trứ
danh của ngài ngày một phát triển và không ngừng thăng tiến trên con đường nghệ
thuật! – Anh chàng phóng viên hồ hởi bắt tay họa sĩ và nói.
Sau cuộc phỏng vấn quan trọng ấy, đã có rất nhiều người tự nhận
là mình có thể sử dụng ý niệm để hiểu được nội dung trong các bức tranh. Họ
khen tranh của trường phái “Hư Vô” đẹp, nhiều màu sắc và đặc biệt là chứa đựng
trong đó một triết lý hội họa sâu xa, mặc dù chẳng ai nhìn thấy gì và cũng
chẳng hiểu gì cả.
o0o
Với những quy luật chẳng bao giờ định sẵn, cuộc sống luôn mang
lại cho con người ta những đổi thay thú vị đến không ngờ. Giống như trong một
phép màu kỳ diệu, kể từ khi tuyên bố sáng lập trường phái hội họa “Hư Vô”, cuộc
đời của họa sĩ Âu Dương cũng theo đó mà thay đổi hẳn. Đã có rất nhiều những nhà
tài trợ và khách hàng tìm đến với ông. Họ toàn là người giàu, những người tự
nhận mình có văn hóa và học thức cao. Họ mua những bức tranh của ông với cái
giá vô cùng đắt đỏ, nhưng lại hoàn toàn vui vẻ và tự nguyện. Chính quyền thành
phố tổ chức những cuộc triển lãm để cho ông giới thiệu và khuếch trương dòng
tranh của mình. Người ta đưa ông lên truyền hình, đọc các bài diễn văn ca ngợi
ông. Họ tung hô ông, nâng ông lên, đơn giản chỉ vì không ai muốn tự nhận mình
là một kẻ kém văn hóa và không có đầu óc nghệ thuật cả. Danh tiếng của họa sĩ
Âu Dương cũng vì thế mà bổng dưng nổi lên như cồn. Các họa sĩ gạo cội từ chỗ
không biết đến cái tên Âu Dương là ai, nay bắt đầu chào đón ông, nhìn ông với
ánh mắt vị nể và thán phục. Họ coi ông như là một người anh cả trong nghệ thuật
hội hoạ. Vậy là cuộc đời ông từ nay đã thực sự bước sang một trang mới. Ông
ngập ngụa trong những lời tán tụng, những buổi hội nghị và ánh hào quang sáng
chói do sự nổi danh mang lại.
Lúc này, trường phái hội họa “Hư Vô” đã trở thành một hiện tượng
xã hội hết sức phổ biến. Danh tiếng của họa sĩ Âu Dương cũng vì thế mà ngày một
bay xa. Không một nhân vật quyền thế và có máu mặt nào trong thành phố mà lại
không biết đến ông cả, kể cả ngài tỉ phú Sơn Mozart đáng mến cũng vậy.
Đến đây, kể cũng nên sơ qua một chút về tiểu sử của ngài tỉ phú
Sơn Mozart. Sở dĩ người ta gọi là tỉ phú, vì ngài rất giàu, có thể nói là giàu
nhất nhì cái thành phố này vậy. Thủa hàn vi, nghe nói là ngài chỉ học hết lớp
năm lớp sáu gì đó rồi bỏ nhà đi làm thuê biền biệt. Đến năm ngoài hai mươi
tuổi, sau khi đã lang bạt kỳ hồ, ngài bắt đầu dừng lại và trú chân ở thành phố
này. Với nghề buôn bán sắt vụn, tích tiểu thành đại rồi ngài cũng có được một
số vốn kha khá. Sau đó thì ngài chuyển sang kinh doanh đủ thứ mặt hàng, từ điện
tử điện lạnh cho đến bảo hiểm và kể cả lĩnh vực bất động sản nữa. Nhờ có nhiều
mánh mung cũng như các mối quan hệ rộng, ngài giàu và phất lên rất nhanh. Người
ta ước lượng sự giàu có của ngài thông qua số lượng tài sản chìm nổi, những cơ
sở kinh doanh mà ngài sở hữu, những tài khoản kếch xù gửi trong ngân hàng. Và
họ nhận ra rằng, ngài rất, rất giàu. Để tương xứng với cái sự giàu đó, không có
cái tên nào phù hợp hơn để đặt cho ngài ngoài danh xưng tỉ phú cả. Dĩ nhiên là
người nổi tiếng nào thì cũng có người yêu kẻ ghét. Những người thiếu thiện cảm
thì gọi ngài là trọc phú. Ngài tỉ phú có một sở thích rất thượng lưu, ấy là
thích nghe nhạc giao hưởng. Mặc dù ngài chẳng hiểu mô tê gì về âm nhạc cả,
nhưng mỗi khi nghe nhạc giao hưởng thính phòng, ngài lại lim dim con mắt, một
tay thì đánh nhịp, tay kia thì vung vẩy như một vị chỉ huy dàn nhạc đại tài
vậy. Trong số các nhạc sĩ của dòng nhạc giao hưởng, ngài tỉ phú đặc biệt hâm mộ
nhạc sĩ thiên tài Mozart của nước Áo. Chính vì vậy mà người ta gọi ngài là Sơn
Mozart cho dễ nhớ. Từ đó, cái tên Sơn Mozart này cũng được thiên hạ ưa thích và
sử dụng phổ biến hơn cả.
Ngoài ngôi biệt thự mặt phố sang trọng mà cả gia đình hiện nay
đang ở, cách đây vài năm, ngài tỉ phú Sơn Mozart còn cho xây thêm một tòa lâu
đài nữa ở ngoại ô để cho mình dưỡng già sau này. Tòa nhà được xây trên một mảnh
đất mà trước đây ông mua lại từ một công ty phá sản. Đó là một mảnh đất đẹp,
nằm gần đường quốc lộ và rộng đến cả ngàn mét vuông. Tòa lâu đài cao ba
tầng, có đến gần vài chục phòng và được kiến trúc theo lối tân cổ điển Châu Âu
lộng lẫy. Nhằm trang trí cho công trình sắp hoàn thành của mình, ngài đã
vung tiền ra để sưu tầm các đồ vật quý hiếm từ khắp nơi trên thế giới mang về
đây. Nào là tranh Ý, thảm Ba Tư, rồi thì gốm sứ Trung Quốc và còn có cả Ngà Voi
từ lục địa đen Châu Phi nữa. Có thể nói, trong lâu đài của tỉ phú Sơn Mozart
lúc này gần như đã có đầy đủ hầu hết các bảo vật đắt giá ở trong thiên hạ. Tuy
vậy nhưng kho báu của ngài vẫn còn thiếu một thứ quan trọng, mà ngài cho rằng
nếu không có nó thì những thứ kia cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Ngài muốn thứ
quan trọng ấy phải được trưng bày ở một nơi sang trọng nhất, được nhiều người
nhìn thấy nhất mỗi khi ra vào tòa lâu đài của mình. Cũng vì ý tưởng đó mà ngay
từ khi xây dựng công trình, ngài đã cho thiết kế ở đại sảnh một chỗ để treo bức
tranh khổ lớn của trường phái “Hư Vô” bất hủ.
Bữa ấy, sau khi đã dùng xong món điểm tâm buổi sáng tại nhà
riêng, ngài cho gọi quản gia (là một người đàn ông đã lớn tuổi) đến hỏi:
- Ngươi biết họa sĩ Âu Dương chứ?
Viên quản gia cong người như con Tôm, đáp:
- Dạ, ngài ấy là người sáng lập nên trường phái “Hư vô”. Khắp cả
thành phố này, ai mà chẳng biết đến tên tuổi của người họa sĩ trứ danh ấy ạ!
Ngài tỉ phú mỉm cười, gật đầu hài lòng.
- Nhà ngươi hãy đi mời ông ta đến đây ngay! Ta muốn gặp!
Quản gia nhíu mày, gãi đầu gãi tai định nói thêm điều gì đó,
nhưng ông chủ đã nóng nảy xua tay:
- Ta nói vậy thì nhà ngươi cứ thế mà làm theo! Chớ có hỏi nhiều!
Kể từ khi nổi danh, họa sĩ Âu Dương đã từng được tiếp xúc và gặp
gỡ rất nhiều những nhân vật quyền quý của giới thượng lưu. Nhưng với ngài tỉ
phú Sơn Mozart lần này thì lại khác hẳn, cầm tờ danh thiếp của ông ta trên tay
mà ông không khỏi ngạc nhiên và bất ngờ. Đến nổi khi người quản gia của ngài tỉ
phú đi rồi mà ông vẫn cứ đứng mân mê mãi tờ danh thiếp trên tay, lòng những bâng
khuâng mãi. Không hiểu là rốt cục ông ta muốn gặp mình có việc gì? Xét về mặt
xã giao, một họa sĩ nghèo như ông thì cũng không thể nào mà không nể mặt ngài
tỉ phú cho được. Hơn nữa, chính ông cũng đang tò mò muốn tận mắt mục sở thị con
người giàu có và nổi tiếng nhất nhì thành phố này. “Biết đâu lại có thể bắt gặp
một mối làm ăn lớn!” – Ông tặc lưỡi tự nhủ như vậy. Thế rồi sau khi đã lựa chọn
cho mình một bộ comple phù hợp nhất để mặc vào, ông vội vàng thu xếp để đến gặp
ngài tỉ phú ngay.
Chừng 15 phút sau thì taxi đã đưa họa sĩ Âu Dương có mặt tại tòa
lâu đài của ngài tỉ phú Sơn Mozart.
Một nữ nhân viên xinh đẹp ra đón họa sĩ Âu Dương ở cổng và dẫn
ông đi theo mình. Họ đi qua một khoảng sân rộng được trồng rất nhiều những
giống cây hoa quý hiếm rất đẹp. Ở khoảng giữa sân, có một cái đài phun nước
được bao quanh bởi những thảm cỏ xanh rì. Thấp thoáng sau rặng liễu rũ bóng,
một nhóm người đang thi công lối đi quanh một cái hồ nước nhỏ. Cách đó một đoạn
lại có mấy người nữa đang đúc chậu, tô tượng bên cạnh những đống vật liệu xếp
chồng ngổn ngang. Tiếng cưa, xẻ, tiếng đục đẽo lách cách vang lên không ngớt.
Cô gái bước đi với một dáng điệu khoan thai, làn eo thon lộ rõ trong bộ đồng
phục màu xanh da trời được cắt may rất khéo và vừa vặn. Không chỉ xinh đẹp, mà
mùi nước hoa đắt tiền trên người cô cứ không ngừng tỏa ra thơm lừng, quyến rũ.
Họa sĩ Âu Dương hít một hơi dài cái hương vị ngất ngây ấy và bất giác có một
liên tưởng thú vị. Ông cảm tưởng như mình đang lạc vào một khung cảnh thần
tiên, mà cô gái kia chính là nàng tiên xinh đẹp đang dạo chơi thơ thẩn trong
vườn đào. Lên đến tầng hai, họ đi qua rất nhiều hành lang có những chiếc cột
tròn được ốp bằng đá cẩm thạch trắng. Những mái vòm cao vút được chạm khắc công
phu, cho thấy sự kỳ công, tỉ mỉ của một công trình thế kỷ. Cuối cùng, hai người
dừng lại trước một căn phòng lớn ở vị trí chính giữa tòa nhà.
- Mời ngài vào! Ông chủ đang đợi ở trong đó! – Cô gái nói và
chìa bàn tay đeo găng trắng muốt, miệng cười như như hoa.
Vẻ tráng lệ của căn phòng khiến cho họa sĩ Âu Dương choáng ngợp.
Tất cả đều rất đẹp, rất sang trọng và nằm ngoài trí tưởng tượng của ông. Một
màu vàng rực rỡ chói lòa khiến ông bất giác phải đưa tay lên che mắt. Nhưng đó
không phải là ánh đèn điện, mà là thứ ánh sáng được tỏa ra từ các đồ vật mạ
vàng bên trong căn phòng. Họa sĩ Âu Dương có cảm tưởng mình là anh chàng
Alibaba nghèo khó đang lạc vào kho báu, sau khi đọc câu thần chú nhiệm mầu. Lòng
đầy bối rối, ông quay lại toan hỏi thì thấy cô gái lúc nãy đã lui gót tự lúc
nào.
Hoạ sĩ Âu Dương dừng lại, hít một hơi thật sâu rồi thu hết can
đảm tiến về phía chiếc bàn sang trọng. Một người đàn ông to béo đang ngồi ở đó,
ngay phía sau có hai vệ sĩ mặc áo vest đen khoanh tay đứng im như tượng gỗ. Họ
nhìn ông mà như không nhìn, vẻ mặt lạnh lùng, vô cảm. Người đàn ông đang ngồi
thấy họa sĩ xuất hiện thì nét mặt lộ vẻ vui mừng, trên cặp môi dày và bóng nhẫy
của ông ta nở một nụ cười dè sẻn.
- Chào ngài! Ngài muốn tìm gặp tôi? – Họa sĩ bước tới, chủ động
lên tiếng và chìa bàn tay của mình ra.
- Mời ngài ngồi! – Ngài tỉ phú đáp bằng một giọng hơi the thé và
bắt tay khách trong khi vẫn ngồi, bàn tay ông ta múp míp, mềm và lạnh như băng.
Hoạ sĩ Âu Dương khép nép ngồi xuống. Lần đầu tiên trong đời, ông
được ngồi trên một chiếc ghế vừa êm vừa sang trọng đến như vậy.
Lúc này, họa sĩ mới có dịp nhìn kỹ hơn con người đang ngồi trước
mặt mình.
Đó là một người trạc tuổi ông, ăn vận toàn đồ tây, chân cũng đi
dày tây bóng lộn. Thân thể phì nộn đến nỗi, có cảm giác những chiếc cúc trên
chiếc áo sơ mi ông ta đang mặc trên người có thể bị bung ra bất cứ lúc nào.
Trong khi ngài tỉ phú cúi xuống, cái cằm có ngấn cứ bành ra nom hệt như một
vòng đai bằng thịt đeo quanh cổ. Ngài đang ngồi trên một chiếc ghế mạ vàng được
chạm rồng phượng, nom giống như ngai vàng trong cung điện của các vị hoàng đế
thời xưa. Trên khuôn mặt hồng hào và béo tốt của con người thành đạt ấy, luôn
toát lên một vẻ gì đấy của sự tự mãn, quyền uy.
Một nam phục vụ bóng bẩy trong bộ đồng phục trắng bê khay đồ
uống từ phòng trong đi ra. Anh ta tiến đến trước mặt khách, lịch sự đặt lên bàn
hai ly nước cam rồi lại lặng lẽ quay gót vào trong.
- Tôi mời ngài đến đây là vì có chút việc! Chẳng hay ngài có sẵn
lòng đáp ứng yêu cầu của tôi hay không? – Ngài tỉ phú nói và đưa bàn tay có đeo
nhẫn kim cương rút một điếu xì gà, châm lửa.
- Xin ngài cứ nói. Tôi đây xin nghe! – Họa sĩ nói và chắp hai
tay vào nhau như để chờ đợi.
Ngài tỉ phú khoát rộng cánh tay:
- Số là tôi đang chuẩn bị khánh thành tòa biệt thự của mình. Đó
là một công trình nghệ thuật thực thụ. Nó rất đồ sộ và tốn kém, có giá trị cả
về kiến trúc lẫn văn hóa, nghệ thuật. Để xứng đáng với công trình thế kỷ ấy,
tôi muốn đặt ngài một bức tranh được vẽ theo trường phái “Hư vô” để treo ở đại
sảnh. Vì chỉ có tranh của ngài thì mới xứng đáng được gọi là đỉnh cao của hội
họa – Ngài tỉ phú dừng lại giây lát, vỗ vỗ bàn tay vào trán như để cố nhớ ra
điều gì, rồi nói tiếp - Cũng giống như thể loại giao hưởng trong âm nhạc vậy.
Dù không lời, nhưng người ta sẽ cảm nhận được cái hay, cái đẹp của nó thông qua
giai điệu và nghệ thuật trình diễn nhạc cụ. Tranh của ngài cũng như vậy!...
- Ngài quả là một con người am hiểu nghệ thuật! – Họa sĩ tươi
cười đáp lễ, trong lòng cảm thấy vui vì được đối phương đánh giá cao.
Hai cánh mũi của ngài tỉ phú cứ thế phồng lên xẹp xuống, da mặt
đỏ ửng lên như bị cảm nắng, rõ ràng là ngài đang rất cảm động. Sau khi dành vài
giây để tiêu hóa lời khen ngợi chân thành đó, ngài bất giác thở dài rồi vỗ nhẹ
tay xuống mặt bàn mà rằng:
- Đúng là thiên tài mới biết thiên tài! Chỉ có họa sĩ Âu Dương
là người hiểu ta mà thôi!
- Không dám! – Hoạ sĩ khiêm tốn đáp.
- À! Suýt nữa thì tôi quên mất! – Ngài tỉ phú giơ bàn tay lên,
nói thêm – Tôi muốn bức tranh phải được vẽ xong đúng dịp khánh thành tòa nhà
vào tháng sau!
- Nếu vậy thì xin ngài hãy dẫn tôi đi xem hiện trường ngay bây
giờ! – Họa sĩ Âu Dương nhấp nhổm trên ghế, có vẻ như ông cũng đang rất sốt
ruột.
Cả bốn người họ rồng rắn nhau đi xuống đại sảnh. Ngài tỉ phú Sơn
Mozart bước đi đường bệ, hai cánh tay khuỳnh khuỳnh sang hai bên vì cái bụng to
quá cỡ của mình. Họa sĩ Âu Dương gò lưng khiêm tốn đi bên cạnh, dáng điệu gầy
gò và thư sinh. Hai người vệ sĩ lúc này cũng đi ngay phía sau, cách ngài tỉ phú
và ông họa sĩ chỉ vài bước chân.
Ngài tỉ phú ngước mắt nhìn lên, chỉ tay vào vị trí treo bức
tranh phía trên đại sảnh:
- Ngài xem! Một bức tranh khổ lớn, có chiều dài ba mét, chiều
rộng hai mét lận. Ngài định tính chi phí bao nhiêu cho bức tranh vĩ đại này?
Họa sĩ đáp, giọng khiêm nhường:
- Tôi không dám nói bức tranh đó là vĩ đại. Nhưng tôi sẽ xin cố
gắng hết sức. Thưa ngài! Còn về mặt chi phí, xin tùy ngài định liệu!…
- Tôi trả cho bức tranh này hai triệu đô. Nếu làm tốt sẽ được
thưởng thêm. Như vậy đã đủ cho ngài làm việc hay chưa?
- Dạ đủ! …Đủ lắm ạ!... – Họa sĩ Âu Dương lắp bắp như không tin
vào tai mình. Đây là món tiền rất lớn đối với một họa sĩ nghèo như ông.
Họa sĩ Âu Dương đưa mắt cẩn thận quan sát khắp xung quanh một
lượt, rồi nói thêm:
- Cứ theo ý tôi thì khung của bức tranh này phải được làm theo
lối cổ điển thì mới phù hợp. Và để cho màu sắc tương quan với bối cảnh nơi này,
nó cũng phải được mạ vàng!
- Phải! Phải! Vậy thì mong ngài họa sĩ cứ thế mà làm đi cho! –
Ngài tỉ phú đưa tay vân vê cằm, tỏ vẻ hài lòng.
o0o
Tại buổi lễ khánh thành tòa lâu đài của ngài tỉ phú Sơn Mozart.
Những chiếc bàn tròn được phủ khăn trắng muốt kê xen kẽ dưới những tán cây xanh
tốt trong sân, ngay trước đại sảnh. Thấp thoáng những nhân viên phục vụ đi lại
giữa các hàng ghế nỉ sang trọng, tiếng loa, tiếng nhạc xập xình, quang cảnh như
trong một buổi dạ tiệc ngoài trời. Có rất nhiều các quan khách thuộc giới
thượng lưu đã có mặt ở đây. Ở hàng ghế đầu, họa sĩ Âu Dương đang ngồi trò
chuyện vui vẻ cùng với mấy quan khách trong thành phố. Cũng như ngài tỉ phú Sơn
Mozart, rất nhiều người trong số họ đã từng mua và treo tranh của trường phái
“Hư Vô” trong nhà mình. Chỉ có điều là chưa ai từng dám bỏ ra một số tiền lớn
như vậy cho một bức tranh như ngài tỉ phú đã làm. Bức tranh ấy lúc này đã được
treo vào vị trí ở trên đại sảnh, bên ngoài phủ một tấm lụa màu hồng rất đẹp.
Tất cả đã sẵn sàng, chỉ còn chờ giây phút xuất hiện của chủ nhân tòa lâu đài
nữa mà thôi.
Đúng 9 giờ 30 phút, một chiếc xe Mercedes màu đen bóng lộn từ
phía ngoài cổng lâu đài chầm chậm chạy vào. Sau khi lượn một vòng như để ngắm nhìn
toàn bộ quang cảnh buổi lễ và để thử thách lòng kiên nhẫn của quan khách, chiếc
xe tiến vào đại sảnh và đỗ xịch ở đó. Cửa xe mở, ngài tỉ phú bước ra trong bộ
comple sang trọng, hai bên có vệ sĩ đi kèm. Sau khi giơ tay và mỉm cười để chào
khắp lượt những người có mặt, ngài tỉ phú trịnh trọng ngồi vào chỗ ghế danh dự dành
riêng cho mình.
Người chủ trì mặc quần tây đen, áo sơ mi trắng có thắt nơ ở cổ
nhanh nhẹn bước lên sân khấu. Bằng một chất giọng cao và rất vang, anh ta bắt
đầu đọc lời giới thiệu nội dung của buổi lễ. Rồi khi tiếng vỗ tay của các quan
khách vừa ngớt, người đó quay nhìn về phía hàng ghế danh dự, hào hứng cất cao
giọng:
- Xin giới thiệu với quý vị một nhân vật đặc biệt, đồng thời
cũng là tác giả của bức tranh vĩ đại hôm nay: Họa sĩ Âu Dương!
Nghệ sĩ Âu Dương trong bộ đồ lụa màu mỡ gà quen thuộc, đầu đội
mũ bê rê, chậm rãi đứng lên trong tiếng vỗ tay không ngớt. Ông bước đến bên
ngài tỉ phú, lịch sự đưa tay lên mời. Ngài tỉ phú cũng hãnh diện đứng dậy, đưa
bàn tay run run chỉnh đốn lại trang phục của mình rồi cùng sánh bước với họa sĩ
trứ danh Âu Dương tiến về phía đại sảnh. Khi họ đã đứng bên dưới chỗ treo bức
tranh, họa sĩ lại giơ tay lên mời lần nữa. Với một vẻ mặt hết sức nghiêm trang,
ngài tỉ phú đưa tay cầm lấy sợi dây, giật mạnh. Tấm vải lụa màu hồng từ trên
cao tụt dần xuống đất, để lộ ra bức tranh của trường phái “Hư Vô” vĩ đại. Đó là
một bức tranh khổ lớn, khung mạ vàng rất đẹp, bên trong được căng một tấm vải
màu xanh nước biển.
Giây phút ấy như bùng nổ, người ta ùa lên sân khấu, rồi người ta
tung hô và tán tụng vẻ đẹp của bức tranh không ngớt.
Chẳng biết từ lúc nào, viên quản gia đã dẫn theo cả một đám gia
nhân xúm xít vây quanh ngài tỉ phú Sơn Mozart để hầu hạ. Bằng một chất giọng xu
nịnh đã được tôi luyện lâu năm, hắn ta khom người, xoa xoa hai bàn tay vào
nhau, khúm núm:
- Bức tranh kia vẽ gì vậy, thưa ngài!
Ngài tỉ phú chắp hai ta ra sau lưng, quay người về phía bức
tranh và nhắm nghiền mắt lại như đang thiền định. Vài giây sau, ngài mở bừng
mắt ra, gật gù:
- Một bức tranh diễm lệ, chứa đựng hết thảy mọi vẻ đẹp ở trên
đời! Nó thật là xinh đẹp và lộng lẫy! – Ngài thao thao bất tuyệt, rồi phẩy tay
- Dĩ nhiên là chỉ mình ta hiểu được. Còn như các ngươi thì biết cái gì!...
Đám đầy tớ lại khom lưng, uốn lưỡi hót như khướu:
- Vâng! Vâng! Chỉ những bậc quyền quý và có văn hóa cao như ngài
thì mới hiểu được thôi ạ!....
Ngài tỉ phú đứng thẳng người lên, ưỡn ngực và nở một nụ cười đầy
mãn nguyện. Nhưng để có được nụ cười ấy, ngài đã phải bỏ ra mất hai triệu đô
la. Cổ nhân nói quả không sai: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”. Ngài tốn cả
núi tiền như vậy chỉ để mua một cái khung tranh mạ vàng và tấm vải tô màu, giả
như bây giờ có đem biếu không thì chắc cũng chẳng có ai rước cho vậy.
Dĩ nhiên, chỉ có họa sĩ Âu Dương là người biết được nội dung của
bức tranh ấy chứa đựng những gì. Đó chính là những thói hám danh, thói a dua và
sĩ diện hão của những con người có danh vọng nhưng trí tuệ thì lại hết sức kém
cỏi, tầm thường.
