Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Rối loạn Triều Đình


Bà lão ngồi xuống ghế, bỏ cái nón lá ra khỏi đầu rồi bắt đầu kể lể, nước mắt vòng quanh:

 

- Khổ lắm cô ơi! Mấy bữa trước họ cho xe ủi và công an, dân phòng đến phá bỏ nhà tôi và mấy hộ xung quanh rồi. Còn chú em tôi và một nhà nữa thì vẫn đang cố bám trụ. Nghe nói là hôm nay họ lại sẽ kéo đến để giải tỏa nốt. Vợ chồng tôi đã già, bây giờ phải mang đồ đạc đến ở nhờ chỗ đứa cháu họ. Ông lão nhà tôi thì sức yếu lắm, lại bị rối loạn Triều Đình - Bà lão vẫn hay nhầm “Tiền đình” với “Triều đình”  cho nên thi thoảng lại bị choáng và ngất, phải cấp cứu suốt đó cô...



 Đến đây bà lão ngẹn ngào không nói thêm được nữa, chỉ biết bưng mặt mà khóc nức nở.

 

Cô Xuân thương cảm, cầm tay bà an ủi:

 

- Thôi! Bà cũng đừng buồn nữa mà nhỡ ốm ra thì khổ. Còn giữ sức khoẻ mà chăm sóc ông cụ nữa chứ. Đằng nào việc cũng đến rồi, mình không thể nào làm khác ngay được. Biết là cái sự nó vô lý như vậy, nhưng phận mình bé nhỏ, biết kêu ai bây giờ?...

 

Bà lão dường như cũng đã có phần nguôi ngoai. Bà lấy khăn ra lau cặp mắt kèm nhèm đã sưng húp:

 

- Còn nhà chú em không biết ra sao. Họ nói là hôm nay sẽ cưỡng chế. Bây giờ tôi phải đến đó để xem thế nào cô ạ!...

 

Nói rồi bà hốt hoảng đứng dậy, cắp nón mà le te đi ra. Không kịp can ngăn, cô Xuân chỉ biết lắc đầu ái ngại nhìn theo bà lão. Trong ánh nắng hắt hiu, cái bóng dáng tội nghiệp ấy trơ trọi như một chiếc lá vàng thu, lả tả xoay mòng trong cơn lốc xoáy cuồng phong.

 

Bà lão với cô Xuân vốn là chỗ thân tình. Thường ngày, hễ có chuyện gì bà cũng đến đây để tâm sự. Chuyện gia đình, chuyện xóm làng, bà đều đem nói hết với cô mà chẳng chút ngại ngần nào cả. Chồng bà lão vốn là nhà giáo nghỉ hưu, vì sức khoẻ kém cho nên mấy năm nay ốm đau, bệnh tật suốt. Các con đều đã trưởng thành và làm ăn ở xa, giờ này chỉ có hai vợ chồng già nương tựa vào nhau. Tháng trước nghe đâu nhà nước có chủ trương quy hoạch đất đai để làm công trình gì đó. Không may nhà ông bà và mấy hộ xung quanh lại bị rơi vào diện giải tỏa. Mọi người đều phản đối mà không chịu nhận đền bù. Họ cho rằng cơ ngơi mấy ngôi nhà mặt đường bề thế như vậy, nay tự dưng bị dẹp bỏ, rồi đền bù như kiểu là đất hoang vậy. Số tiền mà người ta tính cho mỗi hộ, bây giờ không đủ cất một cái chòi để ở, chứ đừng nói gì đến chuyện mua đất mà làm nhà mặt đường như trước đây. Vì vậy mà những hộ dân này đều nhất quyết không chịu di dời. Thế rồi mấy bữa trước chính quyền cho xe ủi đến để cưỡng chế và giải tỏa. Ông lão chồng bà vì xót của nên đứng ra phản đối, nào ngờ bị họ xô ngã mà ngất xỉu phải nhập viện. Tội nghiệp! Ông lão sức khỏe vốn đã yếu, lại bị chứng rối loạn Tiền Đình sẵn.

 

Khi bà lão đến khu cưỡng chế thì đã thấy người và xe cộ đông ùn ùn. Máy xúc thì đã đậu ở đó đợi sẵn, chỉ cần có lệnh là lập tức xông vào để mà san bằng mọi thứ ngay. Đám cảnh sát giao thông đang xăng xái đi lại, thổi còi toe toét để dẹp đường. Cạnh chỗ hàng rào bằng sắt tua tủa những gai nhọn, mấy anh dân phòng đeo băng đỏ, tay cầm dùi cui, vẻ mặt đằng đằng sát khí. Công an mặc sắc phục cũng đông lắm, họ đứng dàn thành đội hình như đang chuẩn bị đánh trận vậy. Quanh đó, những người hiếu kỳ đứng xem vòng trong vòng ngoài, vừa chỉ trỏ vừa bàn luận sôi nổi.

 

Bà lão cố lấy hết sức len qua đám đông đang xúm đen xúm đỏ để mà nhìn cho rõ hơn. Lúc này, mấy người công an mặc sắc phục đang từ từ gỡ bỏ những chướng ngại vật do Thanh - cậu em trai bà - dựng lên trước nhà để ngăn cản đoàn cưỡng chế. Có lẽ sau hành động này, họ sẽ cho máy húc tiến vào để ủi sập ngôi nhà. Thanh đang một mình vật lộn với mấy tay dân phòng, quần áo bị xé rách te tua đến thảm hại. Anh ta cố vùng vẫy thoát ra, nhưng đã bị những cánh tay lực lưỡng ghì chặt xuống. Vốn bị tật nói lắp từ nhỏ, việc phát âm của Thanh cũng hết sức khó khăn. Nhưng trước việc ngôi nhà thân yêu của mình sắp bị người ta ủi sập, giờ đây anh là người nói nhiều hơn bao giờ hết.

 

Trong khi một tay vẫn bị đám dân phòng giữ chặt, tay kia anh vẫn chỉ vào đám người cưỡng chế mà la lên thất thanh:

 

- Túng mày nà...nà...một nũ ăn cướp nhá! Chủ tương một...một đằng, chúng mày lại đi nàm...nàm...một lẻo...

 

Người dân xung quanh, mỗi người một ý. Kẻ thì đồng tình, người lại phản đối. Lắm kẻ còn bưng miệng mà cười ngặt ngẽo vì cái tật nói lắp của khổ chủ.

 

Nhận thấy hai chiếc máy ủi rồ ga chuẩn bị lao vào nhà mình, Thanh vùng thoát ra được và lao lên phía trước. Nhưng vì gắng sức quá, lại đang trong cơn tuyệt vọng nên anh cứ ngã dúi ngã dụi xuống đất. Lập tức, mấy viên công an nữa cũng xông vào cùng nhau hỗ trợ mà giữ chặt lấy anh.

 

Bất lực giữa vòng vây, Thanh hét lên trong nước mắt:

 

- Tao nguyền rủa túng...túng mày. Một nũ...nũ...ăn cướp ban ngày!...

 

Anh hàng xóm cũng thuộc diện bị cưỡng chế, lúc này hoảng quá lao ra chặn đầu chiếc xe ủi lại, không cho nó tiếp tục tiến lên. Thấy tình hình diễn biến phức tạp, viên chỉ huy liền ra lệnh bắt ngay hai người chủ nhà lại. Hai nạn nhân lập tức bị người ta còng tay rồi tống lên chiếc xe ô tô đang chờ sẵn. Mặc dù vậy, họ vẫn cố vùng vẫy để mà la hét và chửi bới ầm ĩ.

 

Xót ruột vì thấy chồng bị còng tay giải đi, chị vợ anh Thanh liền nằm lăn đùng ra đất mà gào lên thảm thiết:

 

- Bớ làng nước ơi! Người ta ăn cướp! Người ta bắt dân...

 

Bà lão đưa tay gạt nước mắt, nhiều người xung quanh cũng sụt sịt khóc theo. Người ta thì thầm với nhau: “Phá nhà người ta, lại còn bắt người ta nữa. Lạ nhỉ?”. “Mà đền bù kiểu gì vậy, như là cướp không à”. “Đang có nhà cửa đàng hoàng, bây giờ thành ra vô gia cư. Rõ tội nghiệp!”...

 

Chiếc xe ô tô chở hai kẻ chống đối rồ ga chạy mất, xả khói đen mù mịt vào đám đông đang ngơ ngác, hoang mang. Cùng lúc, hai chiếc xe ủi cũng rồ ga lao vào, căn nhà đổ sập tức thì giữa đám bụi tung lên mù trời. Tiếng la hét, tiếng than khóc của gia chủ chìm đi trong âm thanh của những động cơ gầm rú.

 

Chừng một tháng sau đó. Bữa nọ cô Xuân đang ngồi bày cho đứa cháu học bài thì thấy bà lão tìm đến, miệng hớt hải:

 

- Nguy rồi cô ơi! Chỗ đất cũ nhà tôi, bây giờ đang làm dự án xây dựng khách sạn mini, do tay cháu ruột của lão bí thư làm chủ đầu tư. Ông lão nhà tôi hay tin, uất quá mà ngất đi. Lại bị rối loạn Triều Đình rồi cô ơi!...



Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Diêm Vương bắt lính


Đà Sơn vốn là một vùng đất đai trù phú, phồn thịnh quanh năm. Vùng này có ba thôn kề nhau, nằm dọc bờ sông Cả, rồi kéo dài đến tận đồi Mưng. Cư dân ở đây chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nghiệp và đánh bắt cá. Đồi Mưng thoai thoải, cây cối rậm rạp mọc lan ra đến tận bờ sông. Trên đó có một ngôi đền cổ, được xây dựng cách nay đã hơn ba trăm năm để thờ vị thần trấn giữ vùng này. Bởi vậy mà người ta vẫn quen gọi là đền Mưng. Gần đến đồi thì nhà cửa thưa thớt dần, phần vì hoang vu, phần vì cái vẻ linh thiêng vốn có của khu đền.



 Khoảng những năm 1980, khi đó Đà Sơn không hiểu có nạn dịch gì mà người bị bệnh chết rất nhiều. Xóm làng hoảng loạn, nhà nhà đều lo sợ hoang mang. Điều kỳ lạ là, số người chết đều toàn là thanh niên trai tráng cả, độ mười tám đôi mươi. Người ta đồn là dưới âm phủ có chiến tranh, cho nên Diêm Vương bắt lính để nhập ngũ. Để phòng xa, nhà nào có con trai một đều phải gửi đi ở nơi khác, đợi cho đến lúc nạn dịch qua đi thì mới lại dám đón về.

 

Bấy giờ không khí tang tóc bao trùm, cờ đám ma dựng khắp làng trên xóm dưới, tiếng khóc vang lên ai oán nỉ non. Khu nghĩa địa thấy toàn là những ngôi mộ mới đắp, cỏ còn chưa kịp mọc. Trước cái tình thế khẩn thiết đó, các cụ cao niên bèn tập hợp nhau lại để bàn chuyện cứu dân vùng Đà Sơn qua khỏi cơn tai ách. Họ sắm sửa lễ vật rồi mang lên đền Mưng cúng tế, khẩn mong thần thổ địa ra tay cứu giúp.

 

 Khi mà người ta đang hy vọng vào sự linh ứng của thánh thần thì tai nạn lại ập đến. Một thanh niên trong làng, buổi trưa đi nắng về nóng quá rồi tắm, sau đó thì tự dưng lăn đùng ra ốm mà chẳng thuốc thang gì chạy chữa được. Mấy ngày sau thì người bệnh qua đời.

 

Chẳng có sự trợ giúp khoa học nào, người ta tự phổ biến cho nhau những kinh nghiệm dân gian để mà chống lại ma quỷ. Họ khuyên nhau không được tắm vào lúc giữa trưa hay ngồi dưới bóng râm. Vì như thế sẽ bị quỷ dưới âm phủ bắt đi mất. Hoặc như nửa đêm về sáng, nếu có nghe tiếng ai đó gọi khẽ tên mình thì đừng có thưa. Nếu trả lời thì coi như đã bị Diêm Vương gọi, hồn sẽ lìa khỏi xác. Vì thế mà mùa hè trời nắng, đi đường dù có nóng đến mấy thì người ta cũng không dám ghé vào gốc cây ngồi nghỉ. Buổi tối trong lúc đi ngủ, cũng sợ vô tình mà trả lời tiếng gọi của ai đó chăng?

 

o0o

 

Thời gian này có nhiều chuyện lạ liên tiếp xẩy ra, khiến cho không gian dường như đặc quánh lại vì ma mị.

 

Giữa ban ngày ban mặt, nhiều người khi đi qua gốc cây Muỗm đầu đình cứ nghe thấy tiếng trẻ con cười khanh khách trên đó. Lắm người còn bị đứa trẻ ném cả quả muỗm vào người. Cây muỗm cổ thụ, nhìn lên chẳng thấy gì ngoài cành lá rậm rì đung đưa. Có người tinh mắt thì khẳng định rằng, lúc nhìn lên cây họ thấy có hai đốm mắt rất sáng, giống như mắt của một con Chồn hay Cáo vậy.

 

Ở thôn Tây có cụ Mẫn làm nghề đánh xe Bò, hằng ngày vẫn đi chở đất đá thuê cho người ta. Bữa nọ khi cụ đánh xe về đến nghĩa địa thì trời đã bắt đầu tối mịt. Trong ánh sáng nhạt nhoà của buổi hoàng hôn, chợt cụ nhìn thấy có một người thanh niên đang đứng thấp thoáng bên vệ đường. Người này vẫy tay, xin đi nhờ xe vào làng. Điều lạ lùng là từ khi người ấy ngồi lên thì chiếc xe bò tự dưng nặng chịch, cứ đi chậm như rùa.

 

 Cụ Mẫn vung roi quất cho con Bò kéo xe vượt qua cái ổ gà đánh “Khục” một tiếng, nhân tiện hỏi:

 

- Nhà cháu ở đâu?

 

- Cháu là Trung, con Bố Thắm ở xóm Đông. Nhà cháu ở cuối xóm đó! – Cậu thanh niên đáp.

 

Cụ gật đầu ra chiều đã nhớ, chứ lũ trẻ con mới lớn lên sau này thì chẳng thể nào mà biết hết cho được. Nhưng dường như linh tính báo có điều gì đó ngờ ngợ, cụ bèn quay lại hỏi:

 

- Vậy chứ cháu đi đâu mà giờ này còn đứng ở đây một mình vậy?

 

- Cháu đi lính, cụ quên rồi sao? Bữa nay nhớ nhà quá nên cháu trốn về ít hôm.

 

Xe đi đến cuối khu nghĩa địa thì tự nhiên nhẹ bổng như mây. Cụ Mẫn quay đầu lại toan hỏi nữa thì đã không còn nhìn thấy cậu thanh niên kia đâu cả. Lòng những hoang mang, cụ cứ ngồi trên xe mà bóp trán suy nghĩ mãi. Một lúc mới giật mình mà nhớ ra rằng, cậu thanh niên lúc nãy đã mất cách đây ít hôm. Đúng như lời cậu ta nói, nhà ở cuối xóm Đông, bố tên là Thắm. Khi nó mất, cũng được người ta chôn cất ở khu nghĩa địa này.

 

Từng là khu dân cư trù phú, giờ đây Đà Sơn như một vùng đất chết. Ban ngày người xe đi lại thưa thớt, tối đến thì cửa đóng then cài. Đâu còn cái vẻ đông vui tấp nập như trước đây. Khu đồi Mưng vốn vắng vẻ, nay lại càng trở nên hoang vu hơn. Người ta nhìn lên ngôi đền, thầm trách thần thổ địa đã không ra tay cứu độ dân làng. Nhưng họ cũng chỉ nghĩ trong lòng vậy thôi, chứ đâu nào dám nói ra lời. Vì thần linh bao giờ cũng có cách giải quyết riêng, người phàm trần thì đâu có thể hiểu và lường biết hết được.

 

o0o

 

Gần bờ sông Cả, có một người chuyên sống bằng nghề cất vó. Cuộc sống cơ cực, đúng như câu “Thân cò lặn lội bờ sông” vậy. Ông ở đây một mình, chẳng có vợ con gì cả.

 

 Tối nọ ông lão lân la vớt vó ở khúc sông dưới chân đồi Mưng. Kể ra cũng liều lĩnh, thời gian này thậm chí ban ngày người ta cũng không dám đến gần khu đồi nữa là. Nhưng vì lúc này cá ở những đoạn sông khác đã ít đi, trong khi ở đây lại có nhiều do xưa nay không ai đánh bắt. Vớt một lúc mà chẳng thấy được gì cả, ông cứ liên tục chuyển chỗ. Vừa khi ấy, bổng dưng trời nổi mây vần vũ, kèm theo là những tia chớp nhì nhoằng xanh lè. Ông lão nhìn lên trời và được chứng kiến một cảnh tượng hết sức kỳ lạ. Trong ánh chớp sáng lòa, những đám mây có hình thù giống như một đoàn quân đang diễu hành ra trận. Sấm sét ì ùng nổi lên tựa tiếng trống trận trầm hùng. Cảnh tượng ấy cứ như thế diễn ra trước mắt ông đến khoảng vài phút.

 

Chợt nghe một tiếng “bủm” vang lên dưới mặt nước. Ông lão hí hửng nhấc vó lên, nhưng lưới thì vẫn trống không mà chẳng có lấy một con cá nào cả. Thất vọng, lão lại chuyển vó đi chỗ khác. Lần này lại có tiếng “bủm” vang lên, như có ai đó cố tình ném vật gì đó xuống nước để mà đuổi cá đi vậy. Mãi mê vớt vó, ông lão quên rằng mình đã di chuyển đến sát dưới chân đồi Mưng.

 

Lại có một tiếng “Bủm” vang lên. Rút kinh nghiệm những lần trước, lần này chờ thật lâu ông lão mới chậm rãi nhấc vó lên. Cảm thấy lưới nặng chình chịch, lão khấp khởi mừng thầm, chắc mẫm là sẽ có rất nhiều cá đây. Một tia chớp loé lên sáng lòa, soi rõ tất cả mọi thứ xung quanh. Ông lão vớt vó hoảng hồn, vì trong lưới không phải cá mà là một cái đầu lâu người đang nằm chòn lỏn. Thần hồn nát thần tính, ông vội vàng hắt trả cái đầu lâu kia xuống lòng sông. Nhưng chẳng hiểu sao, nó cứ dính chặt vào lưới mà không tài nào hất ra cho được. Cực chẳng đã, ông đành phải kéo vó lên bờ để gỡ nó ra. Lúc này lại thấy trong vó có vật gì đó lấp lánh, giống như một tấm thẻ được sơn son thếp vàng. Cho là điềm lạ mà thần linh muốn mách bảo, ông không ném trả cái đầu lâu kia xuống sông nữa, rồi cứ để vậy mà cuốn vó mang về.

 

Sáng hôm sau, ông lão mang cái đầu lâu và tấm thẻ kia ra cho dân làng xem. Sau khi xem xét kỹ, một cụ trong đám cao niên giải thích:

 

- Đây là tấm thẻ bài Vua ban. Người này chắc chắn là một vị tướng quân!

 

Ai cũng kinh ngạc mà chẳng hiểu chuyện gì đang xẩy ra. Các cụ già khác thì bóp trán suy nghĩ rất lung. Ông lão vớt vó nói thêm, vẻ mặt còn chưa hết lạ lùng:

 

- Dường như có thần linh mách bảo, khiến tôi cứ chuyển chỗ mãi. Cho đến khi vớt được cái đầu lâu và tấm thẻ này mới thôi.

 

Một cụ già khác trầm ngâm:

 

- Có thể đây là di cốt của vị tướng quân trong truyền thuyết. Ngày xưa tôi được nghe các cụ kể lại. Vào đời nhà Lê, vùng này có một vị tướng quân tham gia khởi nghĩa chống giặc Minh. Vị tướng đó đã hy sinh, thi thể bị quân giặc ném xuống sông Cả, rồi trôi dạt đến chỗ này chăng?...

 

Mọi người đều cho đó là chủ ý của thần linh, bèn bàn nhau chọn một chỗ đất tốt để chôn cất di hài. Các cụ cao niên lại rước linh vị tướng quân lên thờ tại đền Mưng, để cho dân làng quanh năm nhang khói.

 

 Vùng Đà Sơn từ đó hồi sinh, bệnh dịch cũng hoàn toàn biến mất mà như chưa từng hiện diện ở nơi đây vậy. Chuyện Diêm Vương bắt lính cũng không còn xảy ra nữa. Ba thôn giờ đây cũng đã nhộn nhịp trở lại, cảnh vật vì thế mà lại sầm uất như xưa.


Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Bóng Ma bên thềm


Hoan mãi miết men theo con đường đất gập ghềnh, chiếc đèn ắc quy trên tay anh tỏa ra những quầng sáng đỏ nhờ, lắc lư theo từng nhịp bước. Tiết trời mùa Thu, bóng tối đặc quánh như bủa vây lấy cả người và ngọn đèn nhỏ vào giữa lòng đêm vô tận. Gió rít qua kẽ lá từng đợt, lạnh lẽo và thê lương. Đã gần ba giờ sáng, lúc này anh phải đi nhanh để còn đến nghĩa địa cho kịp lúc bốc mộ mẹ. Theo như lời thầy địa lý, giờ cát là từ ba đến bốn giờ sáng hôm nay.

 

Cánh cổng khu nghĩa địa đã lờ mờ hiện ra trước mắt. Hoan lặng lẽ bước vào bên trong, đám cỏ ẩm ướt chạm vào gót chân như một luồng điện vô hình, khiến anh cảm thấy khắp mình mẩy như mọc đầy gai ốc. Dọc theo khu lăng mộ, hàng phi lao như những gã khổng lồ ma quái, im lìm đứng gác cho các linh hồn yên nghỉ. Hoan ghé vai đặt cuốc, thuổng xuống đất, rồi vội vàng soi đèn để xác định vị trí ngôi mộ. Anh nhớ mộ mẹ mình nằm bên cạnh một cây ngô đồng, có chiều cao ngang tầm đầu người. Đến khi tìm thấy cây ngô đồng, đồng hồ đã chỉ ba giờ mười lăm phút. Thời gian gấp gáp, chỉ có không đầy một tiếng đồng hồ để cho anh hoàn thành công việc. Mọi thứ lại phải đúng như lời thầy dặn, không được sai lệch một chút nào.

 

 Hoan nhanh chóng bắt tay ngay vào việc. Vì mãi đào bới mà anh quên đi cái lạnh về khuya, những giọt mồ hôi đã bắt đầu lấm tấm lăn dài trên hai gò má rám nắng. Bấy giờ bốn bề chỉ còn tiếng côn trùng rền rĩ, rờn rợn và hoang vu. Không gian nghĩa địa huyền bí và mông lung đến kỳ lạ. Sau khi đã nhặt toàn bộ hài cốt bỏ vào tiểu sành, Hoan mang sang ngôi huyệt đã đào sẵn từ trước để chôn cất. Chỗ này ở cuối khu nghĩa địa, cạnh con mương có nước chảy róc rách. Lúc hoàn tất công việc, anh nhìn đồng hồ: đúng bốn giờ kém hai phút. Như vậy là mọi việc đều diễn ra suôn sẻ, đúng như lời thầy địa lý đã dặn. Quay lại ngôi mộ cũ, Hoan lấp đất lại cẩn thận rồi vác đồ đoàn lên vai và chậm rãi quay về.

 

Lúc về đến nhà thì trời hãy còn tối mịt. Rửa tay chân ở vòi nước xong, Hoan đi vào gọi cửa. Vừa bước đến bậc thềm thì đã thấy có một người đàn ông mặc bộ đồ trắng đang đứng đó. Nghĩ là bố mình vì sốt ruột mà chờ để hỏi chuyện mồ mả, anh cất tiếng hỏi:

 

- Bố có phải không?

 

Người kia không trả lời, chỉ đứng im lặng. Thấy lạ, Hoan bước lên thềm để toan nhìn cho rõ thì lại không thấy gì nữa cả. Tuy lạ lùng, nhưng anh cũng bình tĩnh mà gọi vợ ra mở cửa.

 

 - Xong cả rồi chứ anh? – Cô vợ sốt sắng hỏi.

 

 - Xong rồi!

 

Hoan trả lời cho vợ yên tâm, rồi ngồi xuống ghế châm lửa rít thuốc lào sòng sọc. Lúc này chợt thấy lòng bồn chồn, lại nghe như có tiếng người đi lại rì rầm ngoài hiên. Cảm thấy khác thường, anh mở cửa để xem có chuyện gì xẩy ra. Vừa bước ra ngoài, lại thấy bóng người lúc nãy vẫn đứng cạnh cây Dạ Lan bên thềm mà nhìn anh chằm chằm. Đang toan hỏi thì lại không thấy người ấy đâu nữa. Cho là mình bị quáng mắt nên anh vào nhà, đóng cửa lại và lên giường đi nằm. Nhưng rồi vẫn nghe tiếng bước chân ngoài thềm, kèm theo những âm thanh xì xầm như vọng về từ cõi hư vô. Tuy lòng cảm thấy lo sợ, nhưng vì mệt quá mà Hoan ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

 

Liên tục mấy hôm như vậy, cứ tối đến thì lại thấy bóng người nọ đứng lấp ló bên thềm, cạnh cây hoa Dạ Lan Hương. Hoan hỏi vợ có thấy người nào không, chị trả lời là không thấy ai cả. Vợ gặng hỏi thì anh chỉ im lặng mà không đáp. Hoan có dự cảm rằng, cái bóng người kia chỉ muốn cho mỗi mình anh biết mà thôi. Mọi người đến chơi, cũng không ai nhìn thấy gì cả.

 

Bữa nọ, trong giấc ngủ Hoan thấy một giấc mơ.

 

“Buổi sáng, Hoan đang ngồi uống nước chè và hút thuốc lào vặt - vốn là cái thú thường ngày của những người làm nông như anh - Chợt nhìn thấy một cụ già bận bộ đồ trắng, chống gậy từ ngoài cổng đi vào. Khi đến chỗ cây Dạ Lan trước thềm thì người ấy dừng lại mà đứng thập thò ở đó. Nghĩ là một người ăn xin, anh hỏi:

 

- Quê cụ ở tận đâu vậy?

 

Người đàn ông thiểu não đáp:

 

- Nhà tôi ở xa lắm. Nhưng tôi biết mẹ của anh đấy, chúng tôi ở cạnh nhau...

 

Hoan nghe vậy thì lấy làm ngạc nhiên, rõ ràng là mẹ anh đã mất từ lâu, sao ông cụ này lại nói ở gần bà kia chứ?  Cho rằng người đàn ông nói vậy là để kiếm cớ ăn xin, nên anh không trách cứ mà còn lịch sự mời vào nhà ngồi uống nước.

 

Hoan hỏi lý do vì sao phải đi ăn xin, về hoàn cảnh gia đình. Ông ta đưa mắt nhìn anh từ đầu tới chân, rồi cất giọng khàn khàn:

 

- Cách đây mấy hôm, có một kẻ đến phá nhà tôi, rồi đưa tôi đến nơi ở khác. Nhà mới không quen nên tôi thấy khó chịu lắm, lại ở gần một con mương, chỗ đó có cái hang ếch. Suốt ngày phải nghe tiếng nước chảy và ếch kêu khiến tôi không tài nào ngủ được. Tuổi già thích yên tĩnh, anh biết rồi đó. Bây giờ chỉ muốn quay về nhà cũ thôi...

 

Cảm thương cho ông cụ, Hoan tỏ vẻ quan tâm:

 

- Ai mà lại phá nhà cụ như vậy? Bây giờ làm sao để cụ có thể quay về?

 

Người đàn ông trả lời:

 

- Kẻ nào bắt tôi đi thì phải đưa tôi trở lại. Nếu không tôi sẽ ám ảnh nó!...

 

Nói xong, người đó liền vứt chiếc gậy, trợn mắt mà xông vào bóp cổ anh. Hoan sợ hãi chống cự, miệng ú ớ la hét cầu cứu…”.

 

- Này!...Anh la hét cái gì thế? - Chị vợ hốt hoảng lay gọi chồng.

 

Hoan giật mình tỉnh ra, mới biết là mình chiêm bao. Trở dậy bật đèn, uống chút nước cho tỉnh táo rồi anh kể lại giấc mơ vừa rồi cho vợ nghe. Chị vợ lo lắng, cho là điềm ma quỷ chẳng lành, bèn nói:

- Em thấy chuyện này có điều gì đó lạ lùng lắm. Vậy chứ trong lúc bốc mộ, anh có động chạm đến mồ mả của ai không?

Lúc này Hoan cũng cảm thấy chột dạ, mới liên tưởng đến sự việc mấy hôm nay. Cụ già trong giấc mơ kia có dáng dấp rất giống với cái bóng người mà anh vẫn hay thấy bên thềm nhà, cả cái giọng nói như vọng về từ cõi xa xăm cũng vậy. Tuy còn mơ hồ, nhưng anh cảm thấy mọi chuyện thật lạ lùng, ma quái.

 

Hôm sau, Hoan cùng với mấy người nhà nữa đến nghĩa địa để kiểm tra lại công việc bốc mộ. Anh chỉ ngôi mộ đã được đào bên cạnh cây ngô đồng cho mọi người xem.

 

Chợt một người hốt hoảng kêu lên:

 

- Thôi hỏng! Anh đào nhầm phải mộ người khác mất rồi!...

 

Ai nấy vội xúm lại để xem, thì thấy mộ mẹ anh vẫn còn đó, còn chỗ bị đào lại là một ngôi mộ khác. Hoan lo sợ mà hồi tưởng lại, thì ra tối hôm đó vì vội cho kịp giờ tốt mà anh đã xác định sai vị trí cần đào. Ngôi mộ bị đào cũng nằm cạnh cây ngô đồng, nhưng lại chếch về phía tây một chút so với mộ của mẹ anh.

 

Gia đình lo lắng, mới bàn nhau mời thầy xem lại ngày giờ và cúng trừ tà. Sau khi lắng nghe câu chuyện, ông thầy xoa cằm ưu tư:

 

- Người đàn ông vẫn hiện hình bên thềm có lẽ là oan hồn dưới ngôi mộ đã bị anh đào bới. Nay gia đình hãy sắm sửa lễ vật và đồ vàng mã. Đợi sau khi anh đưa xương cốt trả về mộ cũ, tôi sẽ tiến hành cúng tế. Như vậy thì oan hồn được hoàn vị, hết bị khuấy động, sẽ không còn ám ảnh nơi dương thế nữa đâu!...

 

 Hoan nhất nhất làm theo như lời thầy. Quả nhiên, từ đó không còn thấy bóng dáng người đàn ông mặc bộ đồ trắng thấp thoáng bên thềm, cạnh cây hoa Dạ Lan mỗi khi đêm về nữa.


Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Bến đò Lau

Hôm nay đã là hai ba tháng chạp, ngày Ông Táo về trời. Ông Năm đang hì hụi chuẩn bị đồ đoàn để cho cậu cả Thanh về quê cúng tổ tiên. Năm nào cũng vậy, cứ đúng ngày này thì ông lại khăn gói về quê thăm họ hàng chú bác. Sau khi chu toàn mọi việc đâu đấy, ông mới lại quay về để lo đón tết cùng gia đình. Năm nay vì sức khoẻ yếu nên ông để cho cậu con trai cả về quê một mình, cũng là để cho nó quen với chuyện họ hàng mà thay mặt mình sau này vậy. Tuy đã hai mươi tám tuổi, nhưng cậu cả Thanh vẫn chưa lập gia đình. Ông Năm sốt ruột lắm, nhờ người mai mối đông tây để cho cậu yên bề gia thất. Dù sao cũng là người xa quê, ông cần sớm có cháu chắt cho đông vui cửa nhà. Quê ông ở dưới đồng bằng, cách đây những hơn ba mươi cây số lận. Cả nhà lên khai hoang vùng đồi núi này đã mười bốn năm trời, nay cũng tạm ổn định mọi bề. Ở đây đồi núi chập chùng, quê hương khuất bóng non ngàn, nhưng với ông thì quê cha đất tổ bao giờ cũng là nơi gắn bó thiêng liêng trong tâm thức. 

 

Nghe lời bố, cậu cả Thanh ra ngoài vườn chọn một cành đào đẹp và khí thế nhất để mang về quê biếu bác trưởng tộc. Vườn nhà rộng, ông Năm còn trồng thêm mấy cây đào, để tết về hoa nở cho đượm vẻ sắc xuân. Mấy ngày tết ông không cần phải có cành đào trong nhà, cứ để cho hoa nở trên cây giữa thiên nhiên mới là cái thú vị của người miền rừng. Người dưới xuôi không được như vậy, cho nên mới thèm có một cành đào đẹp để mà cắm trong nhà ba ngày tết. Cành đào lúc này đã được cậu cả mang vào đặt giữa sân. Ông Năm hài lòng lắm, cứ đứng ngắm mãi cái vẻ gân guốc cổ thụ, lá hoa mơn mởn của nó mà không hề chán mắt.

 

 Tỉa tót cành đào và cột cẩn thận lên chiếc xe máy xong, ông dặn con:

 

- Đi đường để ý nhất là cành đào nhé, tránh ổ gà để không làm rụng hoa!

 

Rồi ông lại dặn dò về lịch trình thăm nom, chúc tết. Quà gì tặng ai, nói năng ra làm sao. Quà mang về cũng chỉ là những thức miền núi đơn sơ, gọi là tấm lòng thành của người con xa xứ.

 

- Con đã nhớ kỹ rồi! Bố không cần phải dặn nhiều như thế! – Cậu cả sốt ruột ngắt lời bố. Tâm trạng cậu đang rất háo hức.

 

 Đến khi cậu cả đã ngồi lên xe, ông Năm còn nhắc lại lần nữa:

 

- Xong rồi nhớ ra thắp hương ở mộ tổ và ông bà con nhé!

 

Ông nói những lời đó với tất cả vẻ thành kính và nổi nhớ quê cha đất tổ da diết, rồi nhìn theo chiếc xe của con cho đến khi khuất hẳn sau rặng núi mới thôi. 

 

o0o

 

Hành trình về quê chỉ phải qua mấy cây số đường rừng đất đá, còn lại thì toàn đường nhựa, cho nên cậu cả Thanh cũng không đến nổi vất vả lắm. Tuy nhiên, khi về đến quê thì cậu phải đi đò. Chạy dọc bờ sông chừng vài chục phút cũng có một cây cầu, nhưng vì xa nên người ta thường gọi đò để qua sông cho tiện. Bến đò này hình thành từ khi nào thì không còn ai nhớ rõ nữa, nhưng có lẽ cũng đã lâu lắm rồi. Hai bên bờ sông mọc đầy những lau sậy như thủa hồng hoang, ban đêm thì tiếng ếch nhái  kêu vang động cả một vùng. Cũng vì thế mới có tên là “Bến đò Lau” như người ta vẫn thường hay gọi.

 

Không hiểu vì sao khi thiết kế cây cầu thì người ta lại làm cách đây cả chục cây số. Cũng vì sự bất tiện này mà bến đò Lau còn hoạt động đến tận bây giờ, và vẫn giữ được cái vẻ hoang sơ vốn có. Ngôi nhà của người lái đò cách bến độ vài trăm mét, ẩn trong một lùm cây um tùm. Từ ngoài ngó vào, người ta tịnh không nhìn thấy gì ở bên trong đó cả. Chẳng biết là ông lái đò có vợ con hay không, hay ông chỉ ở một mình? Chỉ khi nào có tiếng khách gọi “Đò...ơi...ơi!”, thì mới thấy chiếc thuyền của ông từ trong đám lau lách im lìm bơi ra, hệt như xuất hiện từ thế giới hư vô vậy. Những lúc trời xâm xẩm tối, nhìn thấy cảnh tượng ấy nơi sông cùng thuỷ tận này, người ta không khỏi có cái cảm giác rờn rợn ở trong người. 

 

Lúc về đến bến đò Lau thì trời đã gần trưa, cậu cả Thanh vội vã qua đò vì còn nóng lòng muốn gặp họ hàng thân thích. Trong lúc đẩy xe máy xuống đò, cậu cẩn thận giữ gìn cho cành đào không bị va quệt. May quá, đi đường bấy nhiêu cây số mà cành đào vẫn giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu, những cánh hoa như mang lại sắc xuân rực rỡ cho cái bến đò vốn đã cô liêu. 

 

o0o

 

Xa quê đã lâu, họ hàng gặp nhau tay bắt mặt mừng, nhà nào cũng sốt sắng giữ cậu cả Thanh ở lại để ăn cơm. Nhưng vì lịch trình thăm nom nhiều quá, cậu cả đành phải thất lễ từ chối, chỉ dám nhận lời chúc tết và thăm hỏi từ mọi người. Buổi chiều, sau khi ăn cơm ở nhà bác trưởng tộc xong, cậu cả đi ra nghĩa địa để thắp hương cho ông bà tổ tiên một lúc. Vì vậy mà đến khi chào từ biệt mọi người thì cũng đã chiều muộn.

 

Quay lại bến đò Lau thì trời đã tối mịt. Lúc này cậu cả Thanh không còn nhớ nhà người lái đò nằm ở hướng nào nữa, chỉ nghe bốn bề tiếng ếch nhái râm ran. Đang phân vân bất định thì chợt nhìn thấy có một ngọn đèn le lói cạnh bờ sông. Đoán chắc là nhà người lái đò, cậu cả bèn dắt xe đi men theo lối đó. Tới nơi, thấy một ngôi nhà kiểu cổ, đèn đuốc sáng tỏ khắp nơi, chung quanh có nhiều hoa thơm cỏ lạ đẹp lắm.

 

Cậu cả Thanh ngơ ngẩn, đang định lên tiếng thì thấy có một người con gái xinh đẹp từ trong nhà bước ra, cất giọng thánh thót:

 

- Anh từ đâu đến vậy? Hỏi nhà em có việc chi không? 

 

Cô gái trạc tuổi đôi mươi, dáng vẻ yểu điệu giống như tiên nữ giáng trần vậy. Mới nhìn thoáng qua mà cậu cả đã mê mẩn như người mất hồn. Cúi chào theo cách lịch sự nhất có thể, cậu trả lời:

 

- Tôi về thăm quê, bây giờ mọi việc đã xong xuôi nên mới trở lại nhà. Không ngờ vì bìu ríu quá mà trở nên muộn màng, đi đến đây thì trời vừa tối. Nếu đây là bến đò thì mong cô cho tôi qua sông để còn về nhà cho kịp!

 

Cô gái mỉm cười:

 

- Mời anh cứ ngồi xơi tạm chén nước đã. Đây đúng là bến đò, nhưng bố em còn có việc ở làng bên chưa về. Anh chịu khó đợi một lúc được chăng?

 

Rồi cô nhìn khách, sóng mắt lả lơi, cử chỉ như khêu như gợi.

 

Cậu cả bấy giờ như tỉnh như mơ:

 

- Vậy thì tôi... sẽ đợi!...

 

Rồi anh ngồi xuống chiếc trường kỷ khảm trai nhẵn bóng. Cô gái cũng nhẹ nhàng ngồi nép vào khách, da thịt mềm mại, cơ thể ngan ngát hương thơm. Ánh đèn mờ tỏ, chung quanh hoa lá rực rỡ một vùng, hệt như khung cảnh cổ tích thần tiên vậy. Giữa thời khắc nên thơ đó, cậu cả cất giọng ướm hỏi:

 

- Cho tôi mạn phép hỏi. Chẳng hay em bao nhiêu xuân xanh? Bố mẹ đã đặt để chốn nào chưa?

 

Cô gái hé cặp môi xinh như hoa nở, cúi đầu e lệ:

 

- Năm nay em vừa tròn mười tám tuổi. Bố mẹ chỉ có mình em, vì vậy còn quyến luyến mà chưa muốn gả bán cho ai. 

 

Cậu cả Thanh nghe vậy thì mừng rỡ:

 

- Thật thế ư? Em xinh đẹp như vậy, chắc là còn kén chọn người tâm đầu ý hợp?...

 

Cô gái liền nũng nịu nắm lấy tay anh:

 

- Người tâm đầu ý hợp chính là anh đây. Lâu nay đã nhiều người dạm hỏi nhưng em không vừa lòng. Chỉ anh mới là người có duyên phận với em mà thôi!

 

Cậu cả Thanh cứ tưởng mình đang trong giấc mộng, còn đang chưa biết nói gì thì người con gái đã tiếp lời:

 

- Hôm nay chúng ta gặp nhau đây cũng là bởi duyên phận từ kiếp trước. Nếu anh thực sự có lòng thì nhờ người mai mối, rồi chúng mình sẽ thưa chuyện với cha mẹ hai bên!...

 

- Những lời của em là từ tâm nguyện? – Cậu cả hỏi dồn, như không còn tin vào tai mình nữa.

 

Cô gái nhìn anh rồi lặng lẽ gật đầu. Bấy giờ lại lấy từ trong mình ra một chiếc khăn màu hồng, trên đó có thêu chữ “Vương” và nói:

 

- Em muốn anh hãy nhớ kỹ vật này!

 

 Tuy không hiểu ý, nhưng cậu cả cũng nhìn kỹ mà ghi nhớ trong lòng. Tay trong tay, hai người cứ thế mà ngồi bên nhau hồi lâu. Cả hai nhìn nhau đắm đuối, đầu mày cuối mắt, thật là tâm đầu ý hợp. Một lúc như sực tỉnh, cô buông tay anh và nói:

 

- Giờ đã khuya lắm rồi. Anh nghỉ lại đây rồi sáng mai hãy về nhé!

 

Đã có thề nguyền hẹn ước, anh đâu có ngần ngại mà từ chối lời mời của vị hôn thê. Vả lại trời đã khuya, có về nhà thì cũng đã muộn, cậu cả bèn quyết định ở lại bến đò để cùng người đẹp nghỉ ngơi qua đêm.

 

o0o

 

Khi cậu cả Thanh thức giấc thì trời đã tờ mờ sáng. Anh dụi mắt ngồi dậy, mơ màng nhìn ngắm cảnh vật xung quanh. “Kì lạ thật! Nhà cửa đêm qua đâu rồi nhỉ?” – Anh giật nảy mình, thảng thốt. Cố định thần, anh nhìn kỹ lại lần nữa. Quả thực là không thấy nhà cửa đêm qua đâu cả, chỉ thấy anh đang nằm trên một ngôi mộ rất lớn ở ngay sát mé sông. Chiếc xe máy thì vẫn ở ngay bên cạnh, hệt như khi anh dựng xuống để bước vào nhà cô gái đêm qua. Trống ngực đập liên hồi, cậu cả hốt hoảng đứng lên, quan sát kỹ thì chợt nhận ra bến đò Lau ở cách đây một quãng khá xa. Lòng những bàng hoàng, mắt nhắm mắt mở, anh vội vàng dắt xe máy để mà đi ngược về phía ấy. 

 

Vẫn như mọi khi, người lái đò bí ẩn lại xuất hiện từ trong lùm cây xanh um. Gió thổi bờ sông lạnh buốt, tiếng mái chèo khua sóng nước lao xao. Sau khi đưa giúp anh chiếc xe máy xuống đò, ông hỏi:

 

- Cậu đi đâu mà qua đò sớm vậy?

 

- Vâng! Tôi đi có việc gấp – Cậu cả Thanh trả lời nhưng tâm trí thì vẫn còn đang ngẩn ngơ.

 

Rồi làm như vô tình, anh chỉ tay về phía nấm mộ mà đêm qua mình đã ngủ ở trên đó, hỏi:

 

- Ông có biết ngôi mộ đằng kia là của ai không? Tại sao lại nằm chơ vơ một mình ở nơi bến sông này vậy?

 

Ông lái đò nghe xong thì thở dài:

 

- Rõ tội nghiệp! Đó là mộ một cô gái xinh đẹp ở làng bên. Cô ta năm nay vừa tròn mười tám tuổi, nổi tiếng là người nết na, ngoan hiền. Không hiểu vì buồn bực chuyện tình duyên thế nào mà mấy tháng trước trầm mình ở khúc sông này đây. Dân làng thương cảm, mới chôn cô ấy cạnh bờ sông, và còn đắp cho một ngôi mộ thật lớn nữa. 

 

Bây giờ cậu cả Thanh mới rùng mình mà nhớ lại câu chuyện đêm qua. Mọi sự thật trùng hợp, thật đúng như lời ông lái đò đã kể. Anh bồi hồi đưa mắt nhìn khắp lượt khúc sông, chợt thấy lòng trở nên xao xuyến lạ kỳ. Những con sóng vẫn vỗ vào mạn thuyền ì oạp, hàng lau lách rậm rì đung đưa, ngả nghiêng theo làn gió thoảng.

 

o0o

 

Chừng mấy tháng sau – Bấy giờ khoảng cuối tháng mười âm lịch gì đó – có đám người đi qua bến đò Lau thì bắt gặp một đứa trẻ sơ sinh quấn tã đang khóc. Đứa bé được đặt nằm trên nấm mồ vô chủ, trên cổ tay quấn một chiếc khăn màu hồng có thêu chữ “Vương” thật lớn. Thương tình đứa bé mồ côi, không cha không mẹ, mọi người bèn bảo nhau mang nó về cho một người đàn bà goá trong làng để nuôi. 

 

Về phần cậu cả Thanh, từ dạo ở Bến Đò Lau trở về, cậu cứ ngày đêm thương nhớ bóng hình người con gái đã cùng mình hẹn ước hôm nao. Cũng từ đó, cậu chỉ ở vậy một mình mà không chịu lấy ai, cho dù cha mẹ có nhờ người mai mối khắp nơi. Người ta nói rằng, vì cậu có “Duyên âm”, đã có vợ dưới cõi âm cho nên không thể nào kết duyên cùng với người dương thế được nữa.