Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Diêm Vương bắt lính


Đà Sơn vốn là một vùng đất đai trù phú, phồn thịnh quanh năm. Vùng này có ba thôn kề nhau, nằm dọc bờ sông Cả, rồi kéo dài đến tận đồi Mưng. Cư dân ở đây chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nghiệp và đánh bắt cá. Đồi Mưng thoai thoải, cây cối rậm rạp mọc lan ra đến tận bờ sông. Trên đó có một ngôi đền cổ, được xây dựng cách nay đã hơn ba trăm năm để thờ vị thần trấn giữ vùng này. Bởi vậy mà người ta vẫn quen gọi là đền Mưng. Gần đến đồi thì nhà cửa thưa thớt dần, phần vì hoang vu, phần vì cái vẻ linh thiêng vốn có của khu đền.



 Khoảng những năm 1980, khi đó Đà Sơn không hiểu có nạn dịch gì mà người bị bệnh chết rất nhiều. Xóm làng hoảng loạn, nhà nhà đều lo sợ hoang mang. Điều kỳ lạ là, số người chết đều toàn là thanh niên trai tráng cả, độ mười tám đôi mươi. Người ta đồn là dưới âm phủ có chiến tranh, cho nên Diêm Vương bắt lính để nhập ngũ. Để phòng xa, nhà nào có con trai một đều phải gửi đi ở nơi khác, đợi cho đến lúc nạn dịch qua đi thì mới lại dám đón về.

 

Bấy giờ không khí tang tóc bao trùm, cờ đám ma dựng khắp làng trên xóm dưới, tiếng khóc vang lên ai oán nỉ non. Khu nghĩa địa thấy toàn là những ngôi mộ mới đắp, cỏ còn chưa kịp mọc. Trước cái tình thế khẩn thiết đó, các cụ cao niên bèn tập hợp nhau lại để bàn chuyện cứu dân vùng Đà Sơn qua khỏi cơn tai ách. Họ sắm sửa lễ vật rồi mang lên đền Mưng cúng tế, khẩn mong thần thổ địa ra tay cứu giúp.

 

 Khi mà người ta đang hy vọng vào sự linh ứng của thánh thần thì tai nạn lại ập đến. Một thanh niên trong làng, buổi trưa đi nắng về nóng quá rồi tắm, sau đó thì tự dưng lăn đùng ra ốm mà chẳng thuốc thang gì chạy chữa được. Mấy ngày sau thì người bệnh qua đời.

 

Chẳng có sự trợ giúp khoa học nào, người ta tự phổ biến cho nhau những kinh nghiệm dân gian để mà chống lại ma quỷ. Họ khuyên nhau không được tắm vào lúc giữa trưa hay ngồi dưới bóng râm. Vì như thế sẽ bị quỷ dưới âm phủ bắt đi mất. Hoặc như nửa đêm về sáng, nếu có nghe tiếng ai đó gọi khẽ tên mình thì đừng có thưa. Nếu trả lời thì coi như đã bị Diêm Vương gọi, hồn sẽ lìa khỏi xác. Vì thế mà mùa hè trời nắng, đi đường dù có nóng đến mấy thì người ta cũng không dám ghé vào gốc cây ngồi nghỉ. Buổi tối trong lúc đi ngủ, cũng sợ vô tình mà trả lời tiếng gọi của ai đó chăng?

 

o0o

 

Thời gian này có nhiều chuyện lạ liên tiếp xẩy ra, khiến cho không gian dường như đặc quánh lại vì ma mị.

 

Giữa ban ngày ban mặt, nhiều người khi đi qua gốc cây Muỗm đầu đình cứ nghe thấy tiếng trẻ con cười khanh khách trên đó. Lắm người còn bị đứa trẻ ném cả quả muỗm vào người. Cây muỗm cổ thụ, nhìn lên chẳng thấy gì ngoài cành lá rậm rì đung đưa. Có người tinh mắt thì khẳng định rằng, lúc nhìn lên cây họ thấy có hai đốm mắt rất sáng, giống như mắt của một con Chồn hay Cáo vậy.

 

Ở thôn Tây có cụ Mẫn làm nghề đánh xe Bò, hằng ngày vẫn đi chở đất đá thuê cho người ta. Bữa nọ khi cụ đánh xe về đến nghĩa địa thì trời đã bắt đầu tối mịt. Trong ánh sáng nhạt nhoà của buổi hoàng hôn, chợt cụ nhìn thấy có một người thanh niên đang đứng thấp thoáng bên vệ đường. Người này vẫy tay, xin đi nhờ xe vào làng. Điều lạ lùng là từ khi người ấy ngồi lên thì chiếc xe bò tự dưng nặng chịch, cứ đi chậm như rùa.

 

 Cụ Mẫn vung roi quất cho con Bò kéo xe vượt qua cái ổ gà đánh “Khục” một tiếng, nhân tiện hỏi:

 

- Nhà cháu ở đâu?

 

- Cháu là Trung, con Bố Thắm ở xóm Đông. Nhà cháu ở cuối xóm đó! – Cậu thanh niên đáp.

 

Cụ gật đầu ra chiều đã nhớ, chứ lũ trẻ con mới lớn lên sau này thì chẳng thể nào mà biết hết cho được. Nhưng dường như linh tính báo có điều gì đó ngờ ngợ, cụ bèn quay lại hỏi:

 

- Vậy chứ cháu đi đâu mà giờ này còn đứng ở đây một mình vậy?

 

- Cháu đi lính, cụ quên rồi sao? Bữa nay nhớ nhà quá nên cháu trốn về ít hôm.

 

Xe đi đến cuối khu nghĩa địa thì tự nhiên nhẹ bổng như mây. Cụ Mẫn quay đầu lại toan hỏi nữa thì đã không còn nhìn thấy cậu thanh niên kia đâu cả. Lòng những hoang mang, cụ cứ ngồi trên xe mà bóp trán suy nghĩ mãi. Một lúc mới giật mình mà nhớ ra rằng, cậu thanh niên lúc nãy đã mất cách đây ít hôm. Đúng như lời cậu ta nói, nhà ở cuối xóm Đông, bố tên là Thắm. Khi nó mất, cũng được người ta chôn cất ở khu nghĩa địa này.

 

Từng là khu dân cư trù phú, giờ đây Đà Sơn như một vùng đất chết. Ban ngày người xe đi lại thưa thớt, tối đến thì cửa đóng then cài. Đâu còn cái vẻ đông vui tấp nập như trước đây. Khu đồi Mưng vốn vắng vẻ, nay lại càng trở nên hoang vu hơn. Người ta nhìn lên ngôi đền, thầm trách thần thổ địa đã không ra tay cứu độ dân làng. Nhưng họ cũng chỉ nghĩ trong lòng vậy thôi, chứ đâu nào dám nói ra lời. Vì thần linh bao giờ cũng có cách giải quyết riêng, người phàm trần thì đâu có thể hiểu và lường biết hết được.

 

o0o

 

Gần bờ sông Cả, có một người chuyên sống bằng nghề cất vó. Cuộc sống cơ cực, đúng như câu “Thân cò lặn lội bờ sông” vậy. Ông ở đây một mình, chẳng có vợ con gì cả.

 

 Tối nọ ông lão lân la vớt vó ở khúc sông dưới chân đồi Mưng. Kể ra cũng liều lĩnh, thời gian này thậm chí ban ngày người ta cũng không dám đến gần khu đồi nữa là. Nhưng vì lúc này cá ở những đoạn sông khác đã ít đi, trong khi ở đây lại có nhiều do xưa nay không ai đánh bắt. Vớt một lúc mà chẳng thấy được gì cả, ông cứ liên tục chuyển chỗ. Vừa khi ấy, bổng dưng trời nổi mây vần vũ, kèm theo là những tia chớp nhì nhoằng xanh lè. Ông lão nhìn lên trời và được chứng kiến một cảnh tượng hết sức kỳ lạ. Trong ánh chớp sáng lòa, những đám mây có hình thù giống như một đoàn quân đang diễu hành ra trận. Sấm sét ì ùng nổi lên tựa tiếng trống trận trầm hùng. Cảnh tượng ấy cứ như thế diễn ra trước mắt ông đến khoảng vài phút.

 

Chợt nghe một tiếng “bủm” vang lên dưới mặt nước. Ông lão hí hửng nhấc vó lên, nhưng lưới thì vẫn trống không mà chẳng có lấy một con cá nào cả. Thất vọng, lão lại chuyển vó đi chỗ khác. Lần này lại có tiếng “bủm” vang lên, như có ai đó cố tình ném vật gì đó xuống nước để mà đuổi cá đi vậy. Mãi mê vớt vó, ông lão quên rằng mình đã di chuyển đến sát dưới chân đồi Mưng.

 

Lại có một tiếng “Bủm” vang lên. Rút kinh nghiệm những lần trước, lần này chờ thật lâu ông lão mới chậm rãi nhấc vó lên. Cảm thấy lưới nặng chình chịch, lão khấp khởi mừng thầm, chắc mẫm là sẽ có rất nhiều cá đây. Một tia chớp loé lên sáng lòa, soi rõ tất cả mọi thứ xung quanh. Ông lão vớt vó hoảng hồn, vì trong lưới không phải cá mà là một cái đầu lâu người đang nằm chòn lỏn. Thần hồn nát thần tính, ông vội vàng hắt trả cái đầu lâu kia xuống lòng sông. Nhưng chẳng hiểu sao, nó cứ dính chặt vào lưới mà không tài nào hất ra cho được. Cực chẳng đã, ông đành phải kéo vó lên bờ để gỡ nó ra. Lúc này lại thấy trong vó có vật gì đó lấp lánh, giống như một tấm thẻ được sơn son thếp vàng. Cho là điềm lạ mà thần linh muốn mách bảo, ông không ném trả cái đầu lâu kia xuống sông nữa, rồi cứ để vậy mà cuốn vó mang về.

 

Sáng hôm sau, ông lão mang cái đầu lâu và tấm thẻ kia ra cho dân làng xem. Sau khi xem xét kỹ, một cụ trong đám cao niên giải thích:

 

- Đây là tấm thẻ bài Vua ban. Người này chắc chắn là một vị tướng quân!

 

Ai cũng kinh ngạc mà chẳng hiểu chuyện gì đang xẩy ra. Các cụ già khác thì bóp trán suy nghĩ rất lung. Ông lão vớt vó nói thêm, vẻ mặt còn chưa hết lạ lùng:

 

- Dường như có thần linh mách bảo, khiến tôi cứ chuyển chỗ mãi. Cho đến khi vớt được cái đầu lâu và tấm thẻ này mới thôi.

 

Một cụ già khác trầm ngâm:

 

- Có thể đây là di cốt của vị tướng quân trong truyền thuyết. Ngày xưa tôi được nghe các cụ kể lại. Vào đời nhà Lê, vùng này có một vị tướng quân tham gia khởi nghĩa chống giặc Minh. Vị tướng đó đã hy sinh, thi thể bị quân giặc ném xuống sông Cả, rồi trôi dạt đến chỗ này chăng?...

 

Mọi người đều cho đó là chủ ý của thần linh, bèn bàn nhau chọn một chỗ đất tốt để chôn cất di hài. Các cụ cao niên lại rước linh vị tướng quân lên thờ tại đền Mưng, để cho dân làng quanh năm nhang khói.

 

 Vùng Đà Sơn từ đó hồi sinh, bệnh dịch cũng hoàn toàn biến mất mà như chưa từng hiện diện ở nơi đây vậy. Chuyện Diêm Vương bắt lính cũng không còn xảy ra nữa. Ba thôn giờ đây cũng đã nhộn nhịp trở lại, cảnh vật vì thế mà lại sầm uất như xưa.